
Đục thể thủy tinh là một trong những nguyên nhân gây mù hàng đầu. Bệnh xảy ra ở người lớn và cả trẻ em. Đục thể thủy tinh trẻ em gồm bẩm sinh, chấn thương và bệnh lý.
Các trẻ em bị đục thể thủy tinh một mắt đều bị nhược thị, những trẻ có rung giật nhãn cầu hoặc lác, sự hồi phục thị lực sau phẫu thuật sẽ kém. Điều trị, theo dõi đục thể thủy tinh ở trẻ em rất phức tạp, khó khăn nhất là trẻ dưới 12 tháng tuổi.
Từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2015, tác giả nghiên cứu Nguyễn Quốc Đạt, Bệnh viện Mắt Đà Nẵng tiến hành nghiên cứu tiến cứu mô tả, có can thiệp lâm sàng, không đối chứng đề tài “Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật thể thủy tinh ở trẻ em”. BS Đạt cho biết, có 56 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, độ tuổi dưới 16 tuổi, có 69 mắt chẩn đoán đục thể thủy tinh. Có 5 hình thái gồm đục hoàn toàn, đục dạng màng, đục nhân, đục cực trước hoặc cực sau, đục bao thể thủy tinh.
BS Đạt phân tích, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 8,53 tuổi; nhóm 6 – 15 tuổi có 48 mắt, chiếm tỷ lệ cao nhất gần 70%; nhóm 0 – 2 tuổi có 8 mắt; nhóm 3 – 5 tuổi có 13 mắt. Số bệnh nhân nam/nữ là 1,8/1. Qua thăm hỏi, số mẹ của đối tượng nghiên cứu không rõ bệnh lý trong thai kỳ có 26 người; mẹ nhiễm siêu vi 3 tháng đầu chiếm tỷ lệ 31%; sốt phát ban 3 tháng đầu có 15,7%; mẹ đục thể thủy tinh bẩm sinh có 5,3%. Về đục thể thủy tinh của đối tượng nghiên cứu có 32 mắt (46,4%); đục thể thủy tinh bệnh lý có 11 mắt (15,9%); đục thể thủy tinh do chấn thương có 26 mắt (37,7%). Số trường hợp đục thể thủy tinh 2 mắt có 13 trường hợp; đều do nguyên nhân bẩm sinh; trong đó có 3 trường hợp dưới 2 tuổi và trong số này có 2 bệnh nhân có mẹ bị đục thể thủy tinh bẩm sinh.
Về thị lực trước phẫu thuật, tác giả nghiên cứu cho biết, thị lực sáng tối (+) đến bóng bàn tay có 25 trường hợp (36,2%); trong đó do bẩm sinh có 9 trẻ, do chấn thương và bệnh lý có 16 trẻ. Thị lực trên 4/10 có 4 mắt, trong đó có 2 trường hợp do chấn thương.
Đối với kết quả điều trị, áp dụng kỹ thuật mổ phaco thông thường, xé bao trước liên tục ở 55 mắt (79,7%); phối hợp cắt bằng kéo, kim cho 14 mắt khó (20,3%). Đối với nhóm trẻ < 5 tuổi, tác giả nghiên cứu cho biết, hút sạch chất nhân kèm theo cắt dịch kính phía trước, khi phẫu thuật có thoát dịch kính hoặc có rách bao sau cũng cắt dịch kính chủ động.
Về vị trí đặt kính, đối với nhóm bẩm sinh, tỷ lệ đặt được kính vào trong bao là 85,7%; đối với nhóm chấn thương và bệnh lý tỷ lệ đặt được kính vào trong bao là 75,7%. Sau mổ 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng kết quả thị lực tương đối khả quan; đa số thị lực tăng, một số ít không tăng hoặc tăng thị lực ít là do mắt trẻ bị nhược thị sâu, đã xuất hiện lé, rung giật nhãn cầu; tập nhược thị ít và không có kết quả.
BS Đạt báo cáo, sau mổ 2 – 7 ngày, so trước mổ có 25 mắt mù hoàn toàn. Sáng tối đến bóng bàn tay không còn nữa, hầu hết nhóm thị lực 3/10 đến 6/10 sau mổ đều nhìn thấy, đủ để sinh hoạt học tập với tỷ lệ là 40,5% (trước mổ chỉ có 5,8%). Trong 6 mắt rung giật nhãn cầu có 2 mắt không tăng thị lực. Sau 6 tháng sau mổ, nhóm có thị lực cao trên 6/10 bắt đầu giảm xuống, thị lực khá tăng lên.
BS Đạt chia sẻ, biến chứng trong phẫu thuật, biến chứng rách bao trước nhiều nhất với tỷ lệ 8,7%; gặp ở những trường hợp mắt chấn thương có tổn thương bao trước kèm theo. Đối với biến chứng thoát dịch kính ở 6 mắt, trong đó có 5 mắt nhóm bẩm sinh. Về biến chứng sớm sau mổ, phản ứng màng bồ đào, màng sắc tố tiết tố trên bề mặt kính nội nhãn, màng xuất tiết thường xuất hiện sớm vào ngày thứ nhất sau mổ. Đối với biến chứng muộn sau mổ, đục bao sau thứ phát thường gặp, tuổi càng nhỏ tỷ lệ biến chứng này càng cao. BS Đạt lưu ý, đặt kính trong bao là một tiêu chuẩn của điều trị đục thể thủy tinh có đặt kính nội nhãn, nếu kính nằm đúng vị trí giải phẫu của thể thủy tinh thì thị lực tăng tối đa ở mắt đó.
Tác giả nghiên cứu cho rằng, có 44 mắt không có bệnh kèm ở mắt; các mắt có bệnh kèm chủ yếu là dị tật bẩm sinh phối hợp trong bào thai, do chấn thương vật nhọn, xảy ra trên giác mạc 18 mắt. Bệnh lý kèm tại mắt làm giảm đi cơ hội hồi phục thị lực cho trẻ bằng phẫu thuật chấn thương nặng các bộ phận liên quan, do xử lý ban đầu tuyến dưới không tốt và đặc biệt người bệnh đến Bệnh viện muộn, bố mẹ ít chú ý và không hiểu biết phòng bệnh của cộng đồng. Đối với các biến chứng phẫu thuật xảy ra cao trong những ngày đầu do khả năng phản ứng màng bồ đào của mắt trẻ em cao hơn so với người lớn. Các biến chứng được xử lý tốt nhờ có kỹ thuật cắt dịch kính và gây mê đi kèm trong hệ thống mổ thường quy cho trẻ em.
Văn Hanh