Trẻ em bị ngộ độc chì có thể bị tổn thương nặng nề như giật, hôn mê, viêm não, suy thận thậm chí tử vong.

Theo báo cáo của Bệnh viện Bạch Mai, gần đây tình trạng ngộ độc chì ở trẻ em có xu hướng tăng nhanh, nhiều vùng trong cả nước; đây là tình trạng đáng báo động, rất cần phải quan tâm của toàn xã hội. Thực tế, có nhiều trường hợp chẩn đoán nhầm hoặc không chẩn đoán do không nghĩ tới ngộ độc chì, do các triệu chứng thường lẫn với các bệnh nội khoa như rối loạn ý thức, quấy khóc, bỏ bú, co giật.
Từ tháng 3/2012 đến tháng 9/2013, nhóm tác giả nghiên cứu Ngô Đức Ngọc và Bế Hồng Thu – Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai, Trường đại học Y Hà Nội nghiên cứu hồi cứu mô tả, báo cáo đề tài “Đặc điểm dịch tễ lâm sàng bệnh nhi ngộ độc chì tại Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai”. Nghiên cứu có mục đích định hướng chẩn đoán bệnh nhi ngộ độc chì, thông tin về dịch tễ học lâm sàng ứng dụng cho thực tiễn.
Theo tác giả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu có tuổi dưới 16; tiêu chuẩn chẩn đoán xác định ngộ độc chì gồm có tiếp xúc với các nguồn có chì, hoặc có triệu chứng gợi ý; xét nghiệm chì máu ≥ 10µg/dL. Tiêu chuẩn loại trừ đối với các trẻ bị các bệnh viêm não, viêm màng não, bại não do nguyên nhân khác, viêm gan vi rút.
BS.Ngô Đức Ngọc báo cáo có 108 bệnh nhi đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, nhóm tuổi gặp nhiều nhất là 6-24 tháng tuổi, chiếm tỷ lệ 60,2%; nhóm 24-72 tháng tuổi chiếm 27%. Tỷ lệ bệnh nhi nam chiếm 56,5% cao hơn nữ với tỷ lệ 1,2/1. Đối tượng nghiên cứu sống ở vùng nông thôn có tỷ lệ 85,2%; thành thị 14,8%. Tỷ lệ người dân nông thôn không đưa trẻ đi khám điều trị tại cơ sở y tế mà sử dụng các phương thuốc dân gian để tự điều trị cao, điều này làm tình hình ngộ độc chì phức tạp, khó kiểm soát, điều trị khó khăn.

BS Ngọc cho biết, nguồn tiếp xúc gây ngộ độc chì trong nghiên cứu chủ yếu là từ thuốc cam (96,3%); chỉ có 3,7% tiếp xúc từ làng nghề sản xuất, tái chế chì hoặc vô tình ngộ độc do ăn phải vật chứa chì. Các bác sĩ tại Trung tâm cấp cứu nhận định công tác cấp cứu ban đầu đã chẩn đoán sai tình trạng ngộ độc đến 82,4% do không nghĩ đến bệnh nhân bị ngộ độc chì. Lúc đầu đa phần đối tượng nghiên cứu được chẩn đoán là động kinh hoặc hôn mê chưa rõ nguyên nhân, do hầu hết đều nghĩ ngộ độc chì xuất phát từ ô nhiễm môi trường khói, bụi, đất, nước…còn việc mô tả ngộ độc chì do dùng thuốc đông y chỉ dưới những báo cáo ca bệnh lâm sàng, chưa có những nghiên cứu lớn chỉ ra do dùng thuốc cam, thuốc tễ gây ngộ độc chì.
BS Ngọc báo cáo, đối tượng nghiên cứu dùng thuốc cam nhiều đợt, trên 50% đối tượng nghiên cứu dùng trên 3 đợt; dùng một đợt có tỷ lệ là 32,7%. Điều này cho thấy tình trạng sử dụng thuốc cam ở các địa phương rất thường xuyên và khó kiểm soát; sự phổ biến dùng thuốc cam điều trị các bệnh cho trẻ em, người lớn gây ra tình trạng ngộ độc chì mạn tính. Trong nghiên cứu cho thấy, có 32,7% đối tượng nghiên cứu chỉ dùng một lần đã gây ra tình trạng ngộ độc chì, cho thấy hàm lượng chì trong thuốc cam rất cao, khi sử dụng liên tục gây ra tình trạng ngộ độc chì cấp tính. Trong nghiên cứu có cả đối tượng nghiên cứu bị ngộ độc chì cấp tính và mãn tính.
Trong 104 trường hợp hỏi về nguồn gốc sử dụng thuốc cam có 71 trường hợp biết địa chỉ cụ thể (68%). Nghiên cứu cho thấy có đến 93% cho rằng hiệu quả thuốc cam làm bệnh trước đó giảm đi, như đối với chữa bệnh ở miệng lưỡi, tuy nhiên điều này rất độc hại. Về màu sắc, thuốc cam có nhiều màu cam, vàng, hồng, đỏ, xám, đen; màu cam chiếm tỷ lệ cao nhất. Màu cam vàng là màu chứa hàm lượng chì cao, chủ yếu là chì vô cơ oxide.
Về chẩn đoán trước khi chuyển bệnh nhi đến Trung tâm chống độc, có 37 bệnh nhân được chẩn đoán nhưng chỉ có 17,6% được chẩn đoán là ngộ độc chì, từ 2 bệnh viện Nhi Trung ương và bệnh viện Saint Paul. Còn lại 82,4% là chẩn đoán nhầm như bệnh động kinh, viêm não màng não. Tác giả nghiên cứu lưu ý, ngộ độc chì không chẩn đoán được nếu không nghĩ tới và không được làm xét nghiệm độc chất chì; khi ngộ độc tỷ lệ co giật rất cao, tính chất cơn giật ngắn và toàn thân nên dễ nhầm với các triệu chứng trong động kinh, viêm não. Hiện nay xét nghiệm độc chất chì chỉ thực hiện tại Hà Nội, các tỉnh chưa có điều kiện xét nghiệm, dễ bỏ sót chẩn đoán hoặc chẩn đoán muộn.
Trên lâm sàng ngộ độc chì, đối với ngộ độc mạn thường đau bụng, kém ăn suy dinh dưỡng, viền răng đen (đường viền Burton), thiếu máu, cao huyết áp, viêm thận mô kẻ, bệnh nhân có bệnh lý não cấp rối loạn tri giác, co giật, hôn mê, tăng áp lực nội sọ. Về phân loại ngộ độc chì nặng bệnh nhân có bệnh lý não cấp, hôn mê co giật, tăng áp lực nội sọ, phù não, xét nghiệm nồng độ chì máu > 70µg/dL. Ngộ độc chì trung bình, lâm sàng trẻ tăng kích thích, quấy khóc, lừ đừ, nôn ói, đau bụng, chán ăn, thiếu máu; xét nghiệm nồng độ chì máu từ 45-70 µg/dL.
Phúc Nguyên