[Đăng ngày: 23/10/2017]
Ung thư hạ họng – thanh quản – thực quản là ung thư xuất phát từ hạ họng, xâm lấn vào thanh quản và thực quản. Ung thư thường phát hiện giai đoạn muộn, tiên lượng nặng.

Hiện nay, điều trị ung thư hạ họng thực quản áp dụng liệu pháp điều trị kết hợp đa mô thức phối hợp phẫu trị, hóa trị và xạ trị. Việc phẫu thuật gặp rất nhiều khó khăn do khối u xâm lấn rộng xung quanh; phẫu thuật không chỉ nhằm cắt bỏ hết khối u mà còn giúp tái lập sự lưu thông liên tục của đường tiêu hóa.

Tại bệnh viện Chợ Rẫy từ năm 2004, khoa Tai Mũi Họng là khoa ngoại tổng quát phối hợp, sử dụng dạ dày tái tạo để thay thế thực quản sau phẫu thuật cắt thanh quản – hạ họng – thực quản toàn phần trong ung thư hạ họng thanh quản thực quản giai đoạn muộn (III, IV).

Nhóm tác giả nghiên cứu Trần Anh Bích cùng cộng sự bệnh viện Chợ Rẫy tiến hành nghiên cứu tiến cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng đề tài “Biến chứng phẫu thuật tái tạo hạ họng thực quản bằng ống dạ dày trong điều trị ung thư hạ họng thanh quản xâm lấn thực quản cổ”. Nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng từ tháng 01/2012 đến tháng 9/2016. Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vùng hạ họng thanh quản thực quản cổ giai đoạn muộn T3, T4 và đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ đối với những bệnh nhân ung thư họng – thanh quản đã có di căn xa ở phổi, xương…hoặc đối với ung thư xâm lấn lên cao đến đáy lưỡi, cực dưới amidan, động mạch cảnh, những bệnh nhân đã có phẫu thuật cắt dạ dày.

BS Trần Anh Bích mô tả, nhóm phẫu thuật tai mũi họng tiến hành rạch da cổ hình chữ U, nạo vét hạch cổ 2 bên, cắt toàn bộ hạ họng thanh quản, chuẩn bị miệng nối ở họng, sinh thiết tức thì rìa hố mổ.

Nhóm phẫu thuật ngoại tổng quát, rạch da theo đường trắng giữa trên rốn, bóc tách lấy toàn bộ thực quản, tái tạo dạ dày thành hình ống luồn qua khe hoành qua trung thất sau lên cổ, khâu đóng họng. Nhóm phẫu thuật tai mũi họng nối họng với ống dạ dày theo kiểu tận – bên bằng chỉ PDS 4.0; khâu lỗ mở khí quản vĩnh viễn, đặt ống mũi ống dạ dày, đặt ống dẫn lưu, khâu da cổ, khâu cằm ngực. Tác giả cho biết, chăm sóc hậu phẫu bệnh nhân được nuôi ăn qua đường tĩnh mạch kết hợp với nhỏ giọt sữa qua ống nuôi ăn mũi ống mũi dạ dày khi bệnh nhân chưa trung tiện; bệnh nhân được bơm qua ống mũi dạ dày, khi đã trung tiện, bệnh nhân được rút ống dẫn lưu ở cổ ngày thứ 2. Sau 7 ngày bệnh nhân ăn qua đường tự nhiên.

BS Bích báo cáo có 50 bệnh nhân phù hợp được mời tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu 60,3; nhóm gặp nhiều nhất là 60-69 tuổi. Nam giới chiếm 94%. Bệnh nhân hút thuốc lá 94%; 88% trường hợp vừa hút thuốc lá vừa uống rượu; có 22% trường hợp có bệnh nội khoa kèm theo.

Về vị trí u, u hạ họng chiếm 86%, trong đó một nửa trường hợp ung thư nguyên phát nằm ở xoang lê. Có 98% đối tượng nhập viện ở giai đoạn T4; 2% ở giai đoạn T3. 100% đối tượng nghiên cứu được phẫu thuật cắt hạ họng – thanh thực quản toàn bộ; có thể cắt tuyến giáp và nạo vét hạch cổ - trung thất dựa trên mức độ xâm lấn cơ quan lân cận và hạch di căn, đóng họng có tái tạo bằng vạt cơ niêm mạc đáy lưỡi.

Tác giả nghiên cứu phân tích, theo y văn thế giới, một số biến chứng trong lúc mổ thường gặp là tổn thương mạch máu như tĩnh mạch cảnh, động mạch cảnh; tổn thương thần kinh. Trong nghiên cứu chỉ có 1 trường hợp biến chứng trong mổ là rách khí quản. Khi phẫu thuật viên rút ống nội khí quản và nội soi khí quản kiểm tra bằng ống optic qua lỗ mở khí quản, phát hiện rách thành sau khí quản một đoạn khoảng 2 cm, cách carina 1 cm. Nhóm phẫu thuật đã tiến hành khâu thành sau khí quản qua nội soi. Sau phẫu thuật, chụp Xquang phổi thấy có tràn khí trung thất lượng ít, kết quả cải thiện hoàn toàn sau 7 ngày. Tác giả nghiên cứu lưu ý, rách khí quản là biến chứng hiếm gặp nguy hiểm có thể tử vong trong lúc mổ, vì vậy phải phát hiện sớm, xử lý kịp thời.

Tác giả nghiên cứu cho rằng đối với biến chứng sau phẫu thuật để hạn chế, khi tiến hành kỹ thuật khâu nối tránh vặn xoắn ống dạ dày, phát hiện giải quyết sớm biến chứng và dinh dưỡng, vận động sau mổ sớm cần được chú ý.

Về biến chứng viêm phổi, tỷ lệ gặp là 12%, tác giả cho rằng nguyên nhân vì thời gian phẫu thuật kéo dài, bệnh nhân có những ổ nhiễm trùng ở vùng họng, thanh quản trước đó. Để hạn chế viêm phổi, bệnh nhân cần vận động sớm, hỗ trợ vật lý trị liệu mỗi giờ, mở lỗ khí quản trước mổ, những bệnh nhân có tiền căn bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tác giả khuyến cáo khi xảy ra viêm phổi cần cấy đàm làm kháng sinh đồ, cho kháng sinh liều cao theo kinh nghiệm trong khi chờ kết quả kháng sinh đồ.

Tác giả nghiên cứu cho rằng cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa, dinh dưỡng trước mổ, thực hiện kỹ thuật khâu nối, tái tạo vùng dạ dày nhẹ nhàng tránh làm căng miệng nối, sau mổ bổ sung đủ dinh dưỡng, kháng sinh ngừa nhiễm trùng, can thiệp sớm nếu có biến chứng xảy ra. Nếu có hẹp miệng nối nên nong sớm không để hẹp hoàn toàn.
Văn Hanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 343

Số lượt truy cập: 9284659

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang