
Ngày 15/3/2016, Dự án Sáng kiến khu vực ngăn chặn sốt rét kháng thuốc Artemisinin đã tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch hoạt động dự án năm 2016. Tham dự và chủ trì có BS.CKII Nguyễn Đình Thoan- Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa, trưởng ban dự án.
Dự án có mục tiêu tổng thể là góp phần loại trừ ký sinh trùng sốt rét P.falciparum ở khu vực tiểu vùng sông Mê Kông và ngăn ngừa sự xuất hiện và lan rộng của ký sinh trùng sốt rét kháng Artemisinin.
Đối với mục tiêu cụ thể dự án chia hai khu vực, đối với khu vực I nơi có bằng chứng kháng và nơi có nguy cơ kháng cao, mục tiêu nhằm cắt đứt lan truyền sốt rét bằng cung cấp màn tẩm hóa chất cho toàn dân có nguy cơ; Cung cấp dịch vụ chẩn đoán, điều trị có hiệu quả cao tại các cơ sở y tế và tại cộng đồng cho dân địa phương; cung cấp các biện pháp phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị sốt rét cho dân di biến động; ngừng sản xuất, tiếp thị và sử dụng thuốc sốt rét artemisinin đơn thuần; xây dựng hệ thống giám sát chặt chẽ gắn với cơ chế đáp ứng tại chỗ.
Đối với khu vực II, nơi tiếp giáp với khu vực I, mục tiêu nhằm đảm bảo độ bao phủ cao của màn tẩm hóa chất cho dân có nguy cơ; cung cấp dịch vụ chẩn đoán, điều trị có hiệu quả cao tại các cơ sở y tế và tại cộng đồng; ngừng sản xuất, tiếp thị và sử dụng thuốc sốt rét artemisinin đơn thuần; theo dõi chặt chẽ tình hình sốt rét, xác định và xử lý dịch sốt rét, tiến hành các nghiên cứu đánh giá hiệu lực của thuốc sốt rét.
Dự án có những chỉ số tác động cụ thể gồm tỷ lệ ký sinh trùng (xác định bằng soi kính hiển vi hoặc test chẩn đoán nhanh)/1.000 dân/năm đạt < 0,2‰ vào năm 2016; tỷ lệ các huyện có tỷ lệ nhiễm P.falciparum (xác định bằng soi kính hiển vi hoặc test chẩn đoán nhanh) < 1/1.000 dân phải đạt 94% (7,52/8 huyện) vào năm 2016; tỷ lệ các huyện có tỷ lệ nhiễm P.falciparum (xác định bằng soi kính hiển vi hoặc test chẩn đoán nhanh) < 0,1/1.000 dân đạt 62,7% (05/08 huyện vào năm 2016); Tỷ lệ ca sốt rét nội địa trên tổng số ca sốt rét được điều tra tại vùng sốt rét lưu hành nhẹ, chỉ tiêu năm 2016 là 40%).
Đối với chỉ số đầu ra, tỷ lệ phần trăm người ngủ tại nương rẫy, trong rừng ở vùng sốt rét lưu hành, người do cư đến vùng sốt rét lưu hành có ngủ màn tẩm hóa chất phòng chống muỗi (85% năm 2016); Số màn tẩm hóa chất tồn lưu dài (LLIN) cấp cho dân nguy cơ mắc sốt rét (có kế hoạch chưa cụ thể); số lượng và tỷ lệ % dân vùng nguy cơ được cấp màn tẩm hóa chất tồn lưu dài (có kế hoạch chưa cụ thể); 95% ca nghi ngờ mắc sốt rét được xét nghiệm tìm ký sinh trùng năm 2016; 100% ca sôt rét có ký sinh trùng được điều trị đúng phác đồ năm 2016; 95% ca sốt rét có ký sinh trùng ở vùng sốt rét lưu hành nhẹ được điều tra ca bệnh năm 2016; 86% ổ lan truyền sốt rét được can thiệp thích hợp năm 2016; 98% thôn/bản tại các xã dự án có dụng cụ chẩn đoán và thuốc sốt rét năm 2016; 77% ca nhiễm P.flaciparum được điều trị có giám sát (DOT) năm 2016; 95% dân di biến động có sốt trong vòng 03 tháng trước điều tra được xét nghiệm sốt rét năm 2016; 0 % cơ sở y tế tư nhân có thuốc uống dạng đơn chất có chứa hoạt chất Artemisinin hoặc dẫn xuất năm 2016; 100% cơ sở y tế công không có thuốc sốt rét và các vật tư/ phương tiện chẩn đoán sốt rét htơn 01 tuần trong vòng 3 tháng trước điều tra năm 2016.
Phúc Nguyên