
Tại hội nghị khoa học Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng Khánh Hòa được tổ chức tháng 10/2015, BS Nguyễn Xuân Quang - Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng Khánh Hòa đã có báo cáo đề tài “Kết quả điều trị hội chứng Cổ – Vai – Cánh tay bằng phương pháp điện châm”.
Nghiên cứu được thực hiện trên 30 bệnh nhân được xác định có hội chứng Cổ – Vai – Cánh tay đến điều trị, theo dõi tại khoa Châm cứu – dưỡng sinh Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng Khánh Hòa. Nam gồm có 14 người, nữ giới 16 người; nhóm tuổi 41 – 60 nhiều nhất với 16 người; nhóm 20 – 40 tuổi 7 người và 61 – 86 tuổi 7 người. Nghề nghiệp lao động tự do chiếm nhiều nhất với 10 người; nội trợ 6 người; công nhân 5 người. Đối với phân loại thể bệnh phong tý chiếm 12 người; Hàn tý chiếm 11 người, còn lại là thấp tý và can thận hư. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là phong hàn. Kết quả nghiên cứu cho thấy điện châm có kết quả khá tốt trong điều trị hội chứng Cổ – Vai – Cánh tay và không có tai biến, biến chứng gì trong quá trình điều trị. Tuy nhiên có những trường hợp điều trị dài ngày bệnh nhân có tâm lý không ổn định và dễ bỏ cuộc.
Chúng ta biết rằng đau vùng Cổ – Vai – Cánh tay là bệnh khá phổ biến, bệnh thường xảy ra ở người trên 40 tuổi, ảnh hưởng nhiều đến năng suất lao động xã hội.
Theo tác giả nghiên cứu Krarner Jurgen, tỷ lệ mắc bệnh đĩa đệm cột sống cổ chiếm hơn 36%, đứng thứ 2 sau bệnh lý đĩa đệm cột sống thắt lưng. Việc tìm hiểu nguyên nhân, bệnh chứng đau Cổ – Vai – Cánh tay đồng thời điều trị và dự phòng các chứng bệnh là một yêu cầu cấp thiết đối với người bệnh và cộng đồng; bệnh phối hợp nhiều chuyên ngành nội khoa, ngoại khoa, vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng và Y học cổ truyền, đặc biệt phương pháp điện châm.
Đối với Y học hiện đại, sử dụng nhiều loại thuốc kháng viêm giảm đau, tuy nhiên thuốc có những ưu và nhược điểm nhất định. Phương pháp châm cứu được kế thừa và phát huy kinh nghiệm quý của Y học cổ truyền.
Đau cổ gáy làm hạn chế vận động cột sống cổ, đau làm đầu vẹo sang một bên không quay về bên kia được do cơ bên đau bị co cứng phản xạ. Do thoái hóa hoặc thoát vị đĩa đệm chèn ép các rễ thần kinh thuộc đám rối thần kinh cánh tay, chủ yếu rễ C5, C6, rối loạn phản xạ kiểu rễ cổ gây giảm hoặc mất phản xạ gân xương do rễ thần kinh chi phối bị chèn ép. Đối với tổn thương rễ thần kinh C1, C2 và một phần C3 sẽ gây đau đầu vùng chẩm; tổn thương rễ C3 gây đau vùng chẩm gáy, kèm nói khó tức ngực; tổn thương rễ C4 gây đau bả vai, thành ngực trước, có ho, khó thở; tổn thương rễ C5 gây đau mặt ngoài cánh tay đến cẳng tay, yếu cơ delta; tổn thương rễ C6 gây đau mặt trước cánh tay đến ngón cái và trỏ, yếu cơ nhị đầu; tổn thương rễ C7 đau mặt sau cánh tay đến ngón giữa, yếu cơ tam đầu; tổn thương rễ C8 gây đau mặt trong cánh tay đến ngón nhẫn và út, yếu cơ bàn tay.
Các nghiệm pháp đánh giá tổn thương rễ thần kinh cổ là dấu hiệu chuông bấm; nghiệm pháp ép rễ thần kinh cổ (Spurling); nghiệm pháp căng rễ thần kinh cổ, nghiệm pháp chùng rễ thần kinh cổ, nghiệm pháp kéo giản cột sống cổ.
Đối với hội chứng thần kinh thực vật gồm hội chứng giao cảm cổ sau, hội chứng vai – bàn tay; kích thích đám rối thần kinh cổ sau, đau quanh khớp vai và hội chứng cơ thang.
Nguyên nhân gây hội chứng Cổ – Vai – Cánh tay là thoái hóa đốt sống, thoái hóa đĩa đệm; hư xương sụn cột sống và thoái hóa đĩa đệm cột sống cổ.
Theo Y học cổ truyền, hội chứng Cổ – Vai – Cánh tay thuộc chứng Tý, tắc nghẽn; kiên bối thống – đau vai lưng và ma mộc gây tê. Nguyên nhân do chức năng can thận suy, do tuổi tác, lao động cực nhọc, ăn uống không đầy đủ, sinh hoạt không điều độ làm chức năng can thận suy yếu. Thận chủ cốt tủy, thận suy yếu làm cho cốt tủy không được nuôi dưỡng tốt. Phong, hàn, thấp thừa lúc cơ thể suy yếu xâm nhập vào các kinh Bàng quang, Đởm, Tam tiêu, tiểu trường làm cho khí huyết không lưu thông gây đau mỏi kèm theo tê.
Châm cứu kích thích gây ra một cung phản xạ mới, cấu tạo phương huyệt điều trị hội chứng Cổ – Vai – Cánh tay là phong trì, giáp tích cột sống cổ C3 – C6; Kiên tỉnh; Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hợp cốc, Bát tà; cùng các huyệt theo kinh Bàng quang, Đởm, Tam tiêu, tiểu trường vùng cổ vai.
Mai Trang