[Đăng ngày: 15/01/2016]
Trong điều trị theo dõi bệnh nhân ung thư đại trực tràng các bác sĩ thường dùng xét nghiệm CEA.
Carcinoembryonic Antigen (CEA) thuộc nhóm glycoprotein, do biểu mô đường ruột tiết ra trong thời kỳ phôi thai. Ở người trưởng thành CEA cũng được sản xuất một lượng nhỏ bởi các tế bào niêm mạc bình thường CEA thường tăng cao trong các loại carcinôm tuyến (adenocarcinoma) nhất là ung thư đại trực tràng.
Khi ung thư đại trực tràng ở giai đoạn sớm, ung thư còn khu trú tại chỗ nồng độ CEA tăng không quá 25% các trường hợp; khi bệnh có di căn hạch vùng, tỷ lệ này tăng lên 50% trường hợp, khi di căn xa tỷ lệ tăng lên là 75% trường hợp.
Nhiều bệnh lý ác tính và lành tính khác cũng gây tăng CEA. Ví dụ bệnh lý ác tính ở vú, phổi, dạ dày, tụy, bàng quang, tuyến giáp, cơ quan vùng đầu cổ.
Bệnh lý lành tính hoặc tình trạng hút thuốc, loét dạ dày, bị viêm loét đại tràng, viêm tụy, suy giáp, xơ gan, tắc mật cũng gây tăng CEA. Vì vậy Hội ung thư lâm sàng Mỹ (ASCO) không sử dụng CEA để xét nghiệm tầm soát hoặc chẩn đoán ung thư đại trực tràng … Xét nghiệm CEA chỉ hỗ trợ chẩn đoán sau khi đã có các bằng chứng khác chắc chắn hơn. Sau phẫu thuật triệt để, nồng độ CEA thường trở về bình thường sau 4 – 6 tuần.
Đối với người bệnh ung thư đại trực tràng, nồng độ CEA tăng cao trước mổ có thể liên quan đến tiên lượng kém, tuy nhiên phải kết hợp thêm các yếu tố tiên lượng khác để quyết định điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật. Vai trò chính của CEA là dùng để theo dõi bệnh nhân ung thư đại trực tràng sau điều trị triệt để. Hội ung thư lâm sàng Mỹ khuyến nghị nên xét nghiệm CEA mỗi 2 – 3 tháng trong ít nhất 2 năm sau phẫu thuật. Mục đích để theo dõi cẩn thận những vị trí thường bị tái phát hoặc di căn trước khi bắt đầu mô thức điều trị tiếp theo, đồng thời lưu ý những trường hợp tăng giả tạo do bệnh lành tính hoặc ung thư khác tại phổi, vú, dạ dày …

ALPHA – FETOPROTEIN (AFP)
AFP là protein chính trong thời kỳ phôi thai, tuy nhiên sau sinh nồng độ trong máu giảm đi đáng kể. Những bệnh lý ác tính thường gặp gây tăng AFP là carcinôm tế bào gan, bướu tế bào mầm không seminôm. Những bệnh lý ác tính khác của hệ tiêu hóa cũng gây tăng AFP nhưng ít khi vượt quá 1000ng/ml.
Đối với những bệnh nhân xơ gan hoặc viêm gan lượng AFP trong máu có thể cao hơn bình thường nhưng thường < 500ng/ml. Thai kỳ cũng gây tăng AFP, nhất là trường hợp thai nhi mắc dị tật.
Khoảng 80% bệnh nhân ung thư gan có nồng độ AFP bất thường, trong đó 40% lượng AFP vượt quá 1000ng/ml. Vấn đề sử dụng AFP để tầm soát ung thư gan vẫn còn đang tranh luận.
Một số nghiên cứu cho rằng tầm soát ung thư gan bằng AFP kết hợp với siêu âm có giúp ích cho việc chẩn đoán bệnh đối với nhóm bệnh nhân có nguy cơ như nhiễm viêm gan virut B, C mạn tính.
Khi nồng độ AFP lớn hơn 500ng/ml, cùng với khối u gan điển hình kèm theo các yếu tố nguy cơ mắc bệnh có thể chẩn đoán ung thư gan thay thế cho sinh thiết.

PROSTATE – SPECIFIC ANTIGEN (SPA)
PSA là protein thuộc nhóm Kallikrein, nồng độ rất cao trong tinh dịch, gấp hàng triệu lần so với trong máu. PSA được tổng hợp từ biểu mô ống và túi tuyến của tuyến tiền liệt, hoạt tính chủ yếu là protease, qua đó giúp tinh trùng di chuyển dễ dàng.
PSA là chất đặc hiệu cho cơ quan nhưng không đặc hiệu cho ung thư. Ở những mô tuyến bình thường, những trường hợp tăng sinh lành tính sản xuất nhiều PSA so với ung thư. Đối với những ung thư loại biệt hóa tốt tiết ra PSA nhiều hơn so với loại ung thư biệt hóa kém. Trong tình trạng bệnh lý, màng đáy biểu mô bị tổn thương, qua đó PSA thấm nhập vào hệ tuần hoàn nhiều hơn.
Giá trị PSA trong ung thư tiền liệt tuyến cũng như các bệnh lý lành tính như phì đại tiền liệt tuyến, viêm tiền liệt tuyến có sự trùng lắp lớn. Ngoài ra các trường hợp bí tiểu cấp hoặc sinh thiết tiền liệt tuyến bằng kim, cắt tiền liệt tuyến qua ngã niệu đạo cũng gây tăng PSA đáng kể; vì vậy sau 3 – 4 tuần thực hiện các thủ thuật mới xét nghiệm PSA. Khi xuất tinh làm tăng PSA, do đó nên xét nghiệm PSA ít nhất 48 giờ sau đó.
Người sử dụng thuốc ức chế 5-alpha reductase (finasteride) làm giảm PSA trong máu khoảng 50% sau 6 – 12 tháng sử dụng.
Sử dụng PSA để tầm soát ung thư tiền liệt tuyến còn nhiều tranh luận. Trong các nghiên cứu tầm soát lớn, xét nghiệm PSA gần như làm tăng khả năng phát hiện ung thư tiền liệt tuyến gấp 2 lần so với phương pháp khám trực tràng đơn thuần; nếu phối hợp cả khám lâm sàng trực tràng bằng tay và xét nghiệm PSA cho kết quả phát hiện bệnh tốt hơn.
Khuyến cáo thực hiện khám lâm sàng và xét nghiệm PSA đối với những nam giới trên 50 tuổi; nếu PSA nhỏ hơn 2,5ng/ml có thể kiểm tra mỗi 2 năm.
Nồng độ PSA gợi ý đến chẩn đoán, tuy nhiên khẳng định bệnh phải dựa vào mô học. Bình thường PSA trong máu < 4ng/ml. Khi PSA > 4ng/ml độ nhạy phát hiện ung thư từ 67% - 80%; có nghĩa 20 – 30% trường hợp mắc bệnh sẽ bị bỏ sót khi sử dụng PSA đơn thuần. Có quan điểm cho rằng nếu mức độ PSA thay đổi theo thời gian, tăng trong quá trình theo dõi thì nên cân nhắc có chỉ định sinh thiết, hiện nay giá trị PSA tăng trên 0,75ng/ml/năm được một số tác giả chọn làm giá trị ngưỡng.
Một điều lưu ý, trong máu PSA tồn tại 2 hình thức: tự do và phức hợp. Các nghiên cứu cho thấy đối với ung thư tiền liệt tuyến lượng PSA tự do sẽ giảm so với PSA phức hợp nên tỷ số PSA tự do/toàn phần sẽ giảm theo, nghiên cứu đưa ra ngưỡng từ 14% - 28%. Vấn đề điều chỉnh nồng độ PSA theo tuổi hoặc tỷ lệ theo thể tích tiền liệt tuyến cũng đang được nghiên cứu nhằm làm tăng độ đặc hiệu cho xét nghiệm.
   Th ành Long
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 55

Số lượt truy cập: 9370609

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang