[Đăng ngày: 16/07/2020]

Tại Việt Nam, tính đến năm 2017, có trên 200 nghìn người nhiễm HIV cần được chăm sóc, điều trị thường xuyên, liên tục, suốt đời. Để hạn chế sự lan rộng của đại dịch HIV/AIDS và kéo dài cuộc sống cho những người bị mắc bệnh, nhiều biện pháp như truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao nhận thức, hiểu biết về HIV cho cộng đồng, điều trị dự phòng, điều trị nhiễm trùng cơ hội và điều trị thuốc kháng virut (ARV) cho những người bị nhiễm đã được triển khai. Trong các biện pháp trên, việc chăm sóc, hỗ trợ và điều trị bằng các thuốc ARV đóng một vai trò rất quan trọng.

Tuân thủ điều trị cho trẻ em là một vấn đề phức tạp, bởi trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương, chưa có đủ nhận thức về bệnh cũng như cách thức điều trị. Mặc dù đã có một số nghiên cứu trong nước và quốc tế về vấn đề tuân thủ điều trị ARV ở trẻ em nhưng trong bối cảnh nguồn lực cho phòng, chống HIV/AIDS chủ yếu dựa vào viện trợ của quốc tế đang cắt giảm nhanh, trong khi các nguồn tài chính trong nước (NSNN, BHYT) chưa kịp đủ bù đắp thiếu hụt tài chính kết hợp với việc chuyển giao các dịch vụ HIV/AIDS từ nhà tài trợ sang cho quốc gia, công tác điều trị được chuyển từ hệ thống dự phòng sang hệ thống điều trị ít nhiều thay đổi quy trình, thủ tục hành chính đã phần nào ảnh hưởng đến duy trì điều trị ARV của bệnh nhân.

Từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2019, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Thị Ngọc cùng cộng sự Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đánh giá sự tuân thủ điều trị ARV và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở trẻ em nhiễm HIV tại phòng khám ngoại trú bệnh viện Nhi Trung ương”

Tác giả nghiên cứu phân tích, trong số 219 bệnh nhi nghiên cứu, tỷ lệ tuân thủ điều trị chiếm 63%, tỷ lệ này là thấp và ảnh hưởng nhiều tới kết quả điều trị và tiến triển của trẻ bệnh. Tìm yếu tố liên quan tới tình trạng không tuân thủ điều trị của trẻ bệnh, nghiên cứu đã phân tích những vấn đề từ trẻ bệnh và người chăm sóc chính. Từ phía bệnh nhi, nhóm trẻ bệnh có thời gian điều trị dưới 1 năm có tỷ lệ không tuân thủ cao hơn tỷ lệ tuân thủ tới 9 lần (90% so với 10%). Với nhóm có thời gian điều trị trên 1 năm, tỷ lệ không tuân thủ thấp hơn tỷ lệ tuân thủ (34,4% và 65,6%). Có mối liên quan giữa thời gian điều trị và tuân thủ điều trị của bệnh nhi (OR: 17,1; 95% CI:2,26-75,5 và p<0,01). Lý giải các vấn đề này có lẽ thời gian điều trị còn ngắn (dưới 12 tháng) gia đình và người bệnh chưa thấy rõ được hiệu  quả của dùng thuốc ARV, do đó chưa tin tưởng vào tác dụng của thuốc. Thêm vào đó, thời gian ngắn nên việc tiếp cận với truyền thông chưa đầy đủ.

Phân tích những yếu tố từ người chăm sóc trẻ bệnh: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tình trạng hôn nhân của người chăm sóc giữa nhóm tuân thủ điều trị và nhóm không tuân thủ điều trị (p<0,05). Cụ thể, bệnh nhi có người chăm sóc chính đã kết hôn và sống cùng gia đình tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc cao hơn trẻ bệnh được chăm sóc bởi người chăm sóc chính có tình trạng hôn nhân không tốt (69,1% so với 30,9%). Nhóm trẻ bệnh có người chăm sóc chính độc thân, ly thân, ly dị cũng có tỷ lệ tuân thủ cao hơn nhưng sự chênh lệch không nhiều (54,8% so với 45,2%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê và tình trạng hôn nhân của người chăm sóc chính có liên quan với sự tuân thủ điều trị của bệnh nhi nhiễm HIV với OR=1,83; 95% CI:1,01-3,32 và p<0,05.

Tác giả nghiên cứu cho biết, về yếu tố tình trạng hôn nhân cũng được báo cáo là có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Xuyên thực hiện trên đối tượng người lớn trên 18 tuổi điều trị tại phòng khám ngoại trú điều trị HIV/AIDS - Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Giang. Theo kết quả đã báo cáo của tác giả Nguyễn Thị Xuyên, đa số người nhiễm HIV trong nghiên cứu đã lập gia đình, trong đó đang sống cùng vợ hoặc chồng chiếm tỷ lệ 53,7%, góa là 17,9%, ly dị hoặc ly thân là 20% và tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV chưa lập gia đình chiếm 8,4%. Ngoài ra, tỷ lệ bệnh nhân đang sống cùng vợ hoặc chồng cao, nguy cơ lây nhiễm qua quan hệ vợ chồng cũng đang tăng lên và theo tác giả đây là đối tượng cần được quan tâm để tuân thủ tốt và giảm lây nhiễm. Tuy nhiên đó cũng là yếu tố thuận lợi cho bệnh nhân trong việc động viên, chăm sóc và hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân tại nhà.

Theo kết quả trong nghiên cứu có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nghề nghiệp của người chăm sóc giữa nhóm tuân thủ điều trị và nhóm không tuân thủ điều trị (p<0,05).Cụ thể, tỷ lệ bệnh nhi không tuân thủ điều trị có người chăm sóc chính là nông dân, công nhân, nghề khác cao hơn tỷ lệ bệnh nhi tuân thủ điều trị (60,1% so với 39,9%). Nhóm bệnh nhi có người chăm sóc chính là cán bộ, công chức, viên chức thì tỷ lệ tuân thủ cao hơn gấp 10 lần so với tỷ lệ không tuân thủ điều trị  (90,5% so với 9,5%). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp của người chăm sóc chính và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhi (OR=6,3; 95% CI:1,44-56,9 và p<0,05). Giải thích cho kết quả này có thể do những người làm cán bộ, công nhân viên chức, thường có địa vị xã hội cũng như giáo dục tốt hơn, do đó nhận thức của họ tốt hơn để hiểu về vai trò quan trọng của việc tuân thủ điều trị ARV đối với người đã nhiễm HIV/AIDS. Các biện pháp tiếp cận cụ thể đối với từng cá nhân đã nhiễm HIV/AIDS là cần thiết để có thể cung cấp cho họ đầy đủ kiến thức tốt nhất về việc tuân thủ điều trị ARV.

Bs Trần Thị Ngọc có kết luận, tỷ lệ tuân thủ điều trị của trẻ bệnh HIV/AIDS là 63% và tỷ lệ không tuân thủ là 37%. Điều dưỡng làm việc tại phòng khám ngoại trú khoa truyền nhiễm cần chú ý tư vấn cho bệnh nhi nhiễm HIV/AIDS về tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị, đặc biệt quan tâm đến những trẻ mới mắc và thời gian điều trị còn dưới 1 năm; bệnh nhi có người chăm sóc chính trên 50 tuổi, là nông dân, công nhân hoặc nghề tự do và tình trạng hôn nhân không được thuận lợi. Nội dung tư vấn tập trung vào việc nâng cao hiểu biết về tuân thủ điều trị, tư vấn tâm lý, biện pháp nhắc nhở uống thuốc hàng ngày và vấn đề dinh dưỡng cho bệnh nhi./.

Anh Huy

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 364

Số lượt truy cập: 9285696

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang