[Đăng ngày: 24/06/2020]

Theo các nghiên cứu trên thế giới, ung thư cổ tử cung là bệnh lý phổ biến, đứng thứ hai sau ung thư vú trong số các ung thư ở phụ nữ, đồng thời là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 5 ở nữ giới.

Theo thống kê của cơ quan Nghiên cứu Thế giới về ung thư thuộc Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 500.000 ca mới mắc và 270.000 ca tử vong trên toàn cầu, đặc biệt nửa số trường hợp mắc ung thư cổ tử cung xuất hiện ở Châu Á. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là loại ung thư sinh dục thường gặp nhất, chiếm tỷ lệ 53,5% các loại ung thư ở nữ giới. Đây là bệnh lý ác tính có tỷ lệ mắc đứng hàng đầu ở phụ nữ miền Nam và hàng thứ tư ở phụ nữ miền Bắc. Trong thập niên 70. Virut HPV được mô tả như là một trong những tác nhân gây biến đổi tế bào cổ tử cung (dị sản cổ tử cung), tiền đề dẫn đến ung thư cổ tử cung. Khoảng trên 90% trường hợp ung thư cổ tử cung được phát hiện có liên quan đến nhiễm HPV. Human papillomavirus có khoảng 120 type. Virus này được phân biệt thành 02 nhóm: gennotype nguy cơ cao thường gây ung thư và các gennotype nguy cơ thấp ít khi làm tiến triển đến ung thư. Vì vậy, việc xác định tình trạng nhiễm các gennotype HPV ở phụ nữ là vấn đề rất đáng quan tâm.

Từ tháng 9/2016 đến tháng 8/2018, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Quang Cảnh cùng cộng sự Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương thực hiện và báo cáo đề tài nghiên cứu “Xác định tỷ lệ nhiễm genotype của HPV (HUMAN PAPILLOMAVIRUS) ở bệnh nhân nữ đến xét nghiệm tại bệnh viện Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương”.

Theo tác giả nghiên cứu, mẫu nghiên cứu được lấy là dịch phết cổ tử cung (mẫu được bảo quản trong ống eppendort có chứa đệm TE 1x (Tris EDTA) bảo quản ở nhiệt độ -200C nếu không xét nghiệm ngay). Ly tâm 14.000 trong 15 phút ở 40C để thu tế bào trong bệnh phẩm.

Phương pháp tách chiết AND: AND từ mẫu bệnh phẩm được tách chiết bằng phương pháp sử dụng cột lọc cột spin (spin column) chứa các hạt sillic. Bộ kít thương mại Geneall ExgeneTM Clinic SV - Hàn Quốc.

Phương pháp xác định HPV và genotype:

Xác định HPV: Sàng lọc bệnh nhân  nhiễm HPV bằng kỹ thuật realtime PCR trên hệ thống  máy Realtime PCR Eppendorp Realplex 4 và Agilent Aria MX với chương trình nhiệt: 01 chu kỳ: 950C - 5; 40 chu kỳ lặp lại với: 950C - 15; 550C - 1 (đọc kết quả tại bước này);720C - 20’’.

Xác định genotype HPV: Đối với những mẫu được xác định dương tính với HPV ở trên sẽ được thực hiện kỹ thuật lai phân tử (Reverse Dotblot) để xác định type của các chủng HPV đã nhiễm trên bệnh nhân. Kỹ thuật này có thể phát hiện được 24 genotype của HPV, gồm: 8 type nguy cơ thấp (6,12,42,43,61,70,71,81) và 16 type nguy cơ cao (16,18,31,33,35,39,45,51,52,53,56,58,59,66,68,82).

Trong tổng số bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm PCR để chẩn đoán HPV là 269 bệnh nhân, trong đó lứa tuổi 20-29 và 30-39 là chiếm tỷ lệ cao nhất (lần lượt: 47,06% và 35,29%).

Tác giả nghiên cứu phân tích, trong số các bệnh phẩm được chỉ định xét nghiệm HPV, tỷ lệ HPV dương tính phát hiện bằng kỹ thuật PCR là 53,85% (119/221 trường hợp). Tỷ lệ này là cao hơn hẳn so với nghiên cứu trong nước và nước ngoài xác định tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ nói chung (cao nhất cũng chỉ chiếm 19,97%). Sở dĩ kết quả của nghiên cứu này cao như vậy là do những mẫu bệnh phẩm được chỉ định xét nghiệm HPV tại bệnh viện Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương hầu hết được lấy từ những bệnh nhân có nghi ngờ mắc HPV sau khi đã khám lâm sàng.

Đối với tỷ lệ genotype HPV; theo kết quả có được từ kỹ thuật Reverse Dot Blot, một mẫu bệnh phẩm có thể nhiễm 01 hay đồng nhiễm nhiều loại genotype cho 01 lần xét nghiệm định type. Trong 119 mẫu bệnh phẩm có HPV (+) có 113 mẫu được xét nghiệm xác định genotype. Kết quả cho thấy có tất cả 14 genotype HPV được xác định từ bệnh nhân, trong đó nhóm genotype có nguy cơ cao chiếm 36,03% (trong đó, cao nhất genotype 16 - 25,80%, kế đó là các genotype 18 -3,23%; genotype 58 - 2,69%; genotype 35 - 2,15%; và các genotype 33,45,52,53 đều chiếm 0,54%). Nhóm genotype có nguy cơ thấp chiếm 63,97% (trong đó, cao nhất genotype 11 - 46,24%, kế đến genotype 6 - 8,60% và genotype 81 - 7,53%).

Tác giả nghiên cứu có nhận xét, sự phân bổ các type là khác nhau tùy thuộc  vào dân tộc và vùng địa lý. Tuy có khác nhau về sự phân bổ các type giữa các vùng địa lý khác nhau nhưng nhìn chung type 16 luôn giữ vai trò quan trọng, luôn xuất hiện trong 03 type hay gặp nhất trong các nghiên cứu. Các type 16,18 và 58 luôn là 03 type hay gặp nhất tại Việt Nam qua các nghiên cứu ở những thời điểm khác nhau cho thấy liệu type 16,18,58 có phải là đặc trưng của sự phân bổ các type HPV ở Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung hay không. Trong 113 bệnh nhân được xác định genotype HPV cho thấy kết quả xác định genotype dương tính là 186 (tỷ lệ đơn nhiễm là 56,64%, đồng nhiễm 02 genotype là 29,20% và đồng nhiễm từ 03 genotype trở lên là 14,16%).

Tác giả nghiên cứu có kết luận, tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm HPV cho kết quả dương tính 53,85%. Phát hiện được 14 genotype HPV từ bệnh nhân nghiên cứu, trong đó tỷ lệ nhiễm 01 genotype là 56,64%, đồng nhiễm 02 genotype là 29,20% và đồng nhiễm từ 03 genotype trở lên là 14,16%. Các genotype nguy cơ cao là 36,03% (cao nhất là genotype 16 là 25,80%; genotype 18 là 3,23% và genotype 58 là 2,69%). Tỷ lệ mẫu bệnh phẩm dương tính với HPV cao nhất ở nhóm tuổi 20-29 (chiếm 46,22%), tiếp theo là nhóm tuổi 30-39 (chiếm 31,93%) và nhóm tuổi 60-69 có tỷ lệ nhiễm HPV thấp nhất (chiếm 0,84%)./.

Anh Huy

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 344

Số lượt truy cập: 9285797

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang