Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là một trong những nguyên nhân chính gây ra chèn ép thần kinh vùng cổ. Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy có nhiều bước tiến quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh lý thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.
Từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Võ Văn Thanh cùng cộng sự Viện chấn thương và chỉnh hình, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức thực hiện và báo cáo nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trên bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ đa tầng”.
Bs Thanh báo cáo, có 65 bệnh nhân tham gia nghiên cứu được phẫu thuật bằng phương pháp lấy đĩa đệm, hàn xương liên thân đốt và nẹp vít cột sống cổ lối trước. Nhóm nghiên cứu đánh giá các hình ảnh cận lâm sàng qua phim chụp; trực tiếp khám, đánh giá tình trạng bệnh nhân sau mổ, đánh giá kết quả sau mổ 1 năm, 2 năm.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, có 76,9% bệnh nhân có triệu chứng đau cổ, rối loạn cảm giác chi có tỷ lệ 14%. Khi bệnh khởi phát; trên lâm sàng có 100% bệnh nhân nghiên cứu có triệu chứng đau cổ, đau vai gáy. Các triệu chứng lâm sàng được phân chia vào 03 hội chứng chính là hội chứng rễ 12 bệnh nhân (18,5%); hội chứng tủy 23 bệnh nhân (35,4%) và hội chứng tủy - rễ 30 bệnh nhân(46,1%). Teo cơ là hệ quả của một quá trình do sự chèn ép thần kinh lâu ngày, teo cơ trong hội chứng rễ thường chỉ teo một vài cơ do rễ thần kinh tổn thương chi phối. Rối loạn cảm giác thường xuất hiện tê bì, đau buốt ở ngoại chi. Đây là lý do người bệnh đi khám. Ở bệnh nhân có hội chứng rễ, triệu chứng rối loạn cơ tròn xuất hiện tỷ lệ 30,4% số người bệnh có biến chứng chèn ép tủy. Rối loạn vận động chi trên, chi dưới xuất hiện 82,6%. Teo cơ chi trên xuất hiện 73%, teo cơ chi dưới xuất hiện 82% số người bệnh có hội chứng chèn ép tủy. Đối với bệnh nhân có hội chứng rễ - tủy: rối loạn vận động chi trên có tỷ lệ 86%, rối loạn vận động chi dưới có tỷ lệ 83,3%; teo cơ chi trên 60%, teo cơ chi dưới 36,7%. Triệu chứng ít xuất hiện là rối loạn cơ tròn 12%. Biểu hiện rối loạn cơ tròn chính của số người có hội chứng rễ - tủy là đi tiểu nhiều lần, tiểu không hết.
Bs Thanh cho biết, trước mổ kết quả chụp X- quang có 58/65 bệnh nhân cho hình ảnh mất đường cong sinh lý cột sống cổ. Tác giả cho biết, do sự thoái hóa của cột sống cổ, sự co cơ để đối kháng lại triệu chứng đau là nguyên nhân chính gây biến đổi đường cong sinh lý cột sống. Quá trình thoái hóa lâu ngày giảm tầm vận động của cột sống gây gù, bệnh vẹo cột sống cổ. Tỷ lệ bệnh nhân có hình ảnh hẹp khe liên đốt sống tại tầng thoát vị chiếm tỷ lệ 56,9%. Tác giả cho biết, đĩa đệm là mô được nuôi dưỡng kém, chủ yếu được nuôi dưỡng bằng cơ chế thẩm thấu do đó quá trình thoái hóa diễn ra nhanh. Quá trình thoái hóa đĩa đệm mất nước giảm tính đàn hồi. Dưới tác dụng của lực bên ngoài trong quá trình sinh hoạt, lao động làm đĩa đệm xẹp lại và bè rộng ra gây giảm chiều cao đĩa đệm.
Bs Thanh báo cáo, có 47/65 bệnh nhân có mỏ xương phía trước đốt sống liền kề (72%); mỏ xương do thoái hóa thường xuất hiện đồng thời ở nhiều thân đốt sống, nhất là vòng cổ và thắt lưng. Mỏ xương chỉ xuất hiện ở 1-2 thân đốt sống thường gặp trong thoái hóa cột sống sau chấn thương hoặc di chứng của lao.
Trên phim cắt lớp vi tính cột sống cổ, mỏ xương phía trước đốt sống liền kề có tỷ lệ 64,6%, hẹp khe liên thông đốt sống 60%. Thoái hóa cột sống và thoái hóa đĩa đệm luôn đi song song với nhau; Khi có thoái hóa thoát vị đĩa đệm cột sống cổ và phì đại mỏ xương, mấu khớp thì điều trị nội khoa sẽ không có kết quả mà phải phẩu thuật lấy đĩa đệm thoát vị và lấy bỏ cả chồi xương.
Trên phim chụp MRI cột sống cổ, kết quả cho thấy thoát vị đĩa đệm C6-C7 gặp với tỷ lệ thấp 17%; C3-C4: 16,7%; C4-C5: 46,2%. Tác giả lý giải, cột sống cổ là phần linh hoạt nhất của cột sống, trong sinh hoạt cũng như trong lao động đĩa đệm C5-C6 tham gia nhiều vào các động tác cúi, ưỡn của cột sống cổ. Vì vậy đĩa đệm C5-C6 sớm bị thoái hóa hơn.
Bs Thanh báo cáo, trong nghiên cứu 100% là thoát vị đĩa đệm trung tâm ra sau, không gặp thoát vị ra trước hay thoát vị vào thân đốt sống. Tác giả cho biết, chỉ thoát vị đĩa đệm ra sau mới gây chèn ép vào tủy hay rễ thần kinh và gây lên các triệu chứng lâm sàng buộc người bệnh phải đến bệnh viện khám. Do có sợi dây chằng dọc sau phân bố đồng đều ở mặt trước ống sống cổ mà không tập trung phân bố ở giữa, đồng thời vòng sợi đĩa đệm ở phía sau yếu hơn nửa phía trước đó là nguyên nhân chính làm tăng tỷ lệ thoát vị đĩa đệm trung tâm và cạnh trung tâm./.
Lâm Quyên