Đái tháo đường (ĐTĐ) tuýp 2 là bệnh chuyển hóa mạn tính gây nhiều biến chứng. Trong đó tổn thương thận, đặc biệt tổn thương mạch máu thận là một biến chứng sớm thường gặp dẫn đến suy thận mạn tính, với những biến đổi về hình thái, chức năng thận cơ bản nhất là thành dày, xơ hóa các động mạch ở vùng nối vỏ - tủy và các động mạch vùng trước cầu thận. Tổn thương mạch máu thận trong ĐTĐ thường tổn thương lan tỏa từ thân cũng như các nhánh mạch máu nhỏ của thận, trong đó sớm nhất thường là các mạch máu nhỏ. Siêu âm Doppler mạch máu thận giúp đánh giá tình trạng tưới máu nhu mô thận. Sự biến đổi huyết động mạch máu thận báo hiệu sự trầm trọng của tổn thương thận.
Từ tháng 6/2012 đến tháng 5/2013, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Hải cùng cộng sự Bệnh viện Quân Y 103, Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang, có đối chứng báo cáo đề tài khảo sát biến đổi một số chỉ số huyết động tại động mạch rốn và nhu mô thận bao gồm vận tốc tâm thu, vận tốc tâm trương, vận tốc trung bình, chỉ số trở kháng và chỉ số đập ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2.
Đối tượng nghiên cứu là 102 bệnh nhân. Đối với nhóm bệnh: loại trừ các tình trạng bệnh nặng như hôn mê, tiền hôn mê, NMCT, tắc mạch máu thận, suy tim nặng, các bệnh nội khoa nặng (nhiễm trùng nặng, suy gan) hoặc sau phẫu thuật, hình ảnh siêu âm thận khó xác định các mạch máu thận. Đối với nhóm người bình thường: loại trừ các đối tượng có bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipit máu, bất thường về chức năng gan hoặc thận, béo phì (BMI>25).
Bs Thanh Hải phân tích, tổn thương thận là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 bao gồm 03 yếu tố chủ yếu, đó là sự thay đổi huyết động, rối loạn chuyển hóa một số chất và ảnh hưởng của yếu tố gen. Trong đó sự thay đổi huyết động bao gồm huyết động hệ thống và huyết động tại thận là các yếu tố quan trọng. Biến đổi và tổn thương mạch máu nhỏ ở thận là biến chứng sớm thường gặp góp phần quan trọng dẫn đến tiến triển bệnh thận (suy thận) do đái tháo đường. Siêu âm đánh giá tưới máu thận giúp chẩn đoán sớm và theo dõi tiên lượng bệnh thận do ĐTĐ. Nghiên cứu biến đổi huyết động tại rốn thận và nhu mô thận ở 102 bệnh nhân ĐTĐ so sánh với 32 người khỏe mạnh tương đồng về độ tuổi.
Tác giả báo cáo các thông số như vận tốc đỉnh tâm thu (Vs); vận tốc cuối tâm trương (Vd); vận tốc trung bình (Vm); chỉ số trở kháng (RI); chỉ số đập (PI). Cụ thể, ở nhóm bệnh các chỉ số Vs, Vd, Vm tại rốn thận, nhu mô thận thấp hơn và chỉ số RI và PI cao hơn nhóm chứng.
Điều này có thể được giải thích do ở bệnh ĐTĐ tổn thương động mạch biểu hiện bằng ba yếu tố chính thay đổi về mô học xảy ra ở cầu thận của những người ĐTĐ biến chứng thận: thứ nhất sự giãn nở của tế bào gian mao mạch bị giảm xuống trực tiếp bởi sự tăng đường máu, có lẽ theo con đường tăng lên của chất nền hoặc quá trình thoái biến của protein nền. Thứ hai sự dày lên của màng đáy cầu thận xảy ra. Thứ ba sự xơ cứng cầu thận nguyên nhân bởi tăng huyết áp ngoài cầu thận (bị giảm xuống bởi của các tiểu động mạch đến hoặc từ sự thương tổn thiếu máu bởi sự hẹp các hyaline của các mạch cung cấp máu cho cầu thận. Đặc điểm huyết động của tưới máu thận của bệnh nhân ĐTĐ so với người bình thường: giai đoạn khi chưa có protein niệu, một số bệnh nhân có mức lọc cầu thận tăng do có vận tốc dòng chảy động mạch thận tăng, ở giai đoạn protein niệu dương tính thì vận tốc dòng chảy động mạch tại thận bằng người bình thường, còn khi có suy thận, thành mạch bị vữa xơ, tăng độ cứng thành mạch vì vậy tốc độ dòng chảy thấp hơn so với người bình thường. Nghiên cứu cho thấy các chỉ số Vs, Vd,Vm ở nhóm bệnh thấp hơn so với nhóm chứng do 69,6% bệnh nhân có protein niệu và hoặc suy thận.
Trong các chỉ số về huyết động ở rốn thận và nhu mô thận thì chỉ số RI và PI giá trị nhất trong đánh giá tưới máu thận. Tăng RI và PI liên quan đến tiến triển và tiên lượng tổn thương thận ở bệnh nhân ĐTĐ. Sự tăng RI và PI là do tổn thương các mao mạch, cầu thận dẫn đến giảm số lượng và vùng tưới máu cả các mạch máu nhỏ ở nhu mô thận. RI và PI trong nghiên cứu phần lớn đều tăng so với nhóm chứng.
Các chỉ số huyết động tại rốn thận đều cao so với tại nhu mô thận. Các chỉ số huyết động thu được tại động mạch rốn thận thì luôn cao hơn các chỉ số huyết động thu được tại mô thận ở từng giai đoạn biến chứng thận. Giá trị trung bình các chỉ số huyết động (Vs, Vd,Vm) ở rốn thận luôn cao hơn ở nhu mô. Điều này có thể được giải thích do đường kính động mạch tại rốn thận lớn hơn đường kính của các động mạch gian thùy ở nhu mô thận, do đó vận tốc dòng máu lớn hơn. Chi số trở kháng RI và chỉ số đập PI ở nhu mô nhỏ hơn so với ở rốn thận là do sức cản dòng máu ở nhu mô thận thấp hơn so với sức cản tại rốn thận. Vận tốc dòng máu ở giai đoạn protein niệu âm tính, microalbumin niệu dương tính giảm không đáng kể, còn ở giai đoạn suy thận vận tốc dòng máu giảm nhiều. Ở giai đoạn protein niệu dương tính chưa suy thận hoặc khi đã có suy thận mạn tính thì RI và PI tăng lên rõ rệt. Kết quả của nghiên cứu tỷ lệ bệnh nhân có tổn thương ở mức protein niệu hoặc suy thận là 41,2% do đó RI và PI trong nghiên cứu bắt đầu có xu hướng tăng.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, biến đổi các chỉ số huyết động mạch máu thận ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 so với người bình thường (nhóm chứng) như sau:
- Bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 các giá trị trung bình Vs, Vd,Vm tại động mạch rốn thận và nhu mô thận thấp hơn so với nhóm chứng, nhưng chỉ số RI và PI cao hơn nhóm chứng (p<0,05).
- Ở bệnh nhân đái tháo đường các giá trị trung bình Vs, Vd,Vm, RI và PI ở động mạch tại rốn thận cao hơn so với tại nhu mô thận (p<0,05).
- Tại động mạch vùng rốn thận, số lượng bệnh nhân có giảm Vs, Vd,Vm chiếm tỷ lệ lần lượt là: 59,8%, 70,6%, 67,6%; Tăng RI và PI chiếm tỷ lệ lần lượt là 74,5% và 62,7%.
- Tại động mạch vùng nhu mô thận, số lượng bệnh nhân có giảm Vs, Vd,Vm chiếm tỷ lệ lần lượt là: 56,9%, 66,6%, 55,9%; Tăng RI và PI chiếm tỷ lệ lần lượt là 83,3% và 76,5%./.
Văn Hanh