Đề kháng kháng sinh là vấn đề sức khỏe toàn cầu trong giai đoạn hiện nay. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ước tính đến năm 2050, mỗi năm có khoảng 10 triệu người chết do vi khuẩn kháng thuốc, trong số đó có đến 4.730.000 người tại các nước Châu Á bị ảnh hưởng.
Số lượng kháng sinh mới ngày càng ít trong khi đó vi khuẩn đề kháng với kháng sinh ngày càng phổ biến, ngay cả những kháng sinh thế hệ mới. Chương trình Giám sát sử dụng kháng sinh đã được chứng minh có hiệu quả tại các quốc gia, giúp giảm tình trạng kháng thuốc, giảm tiêu thụ kháng sinh. Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình như thế nào tại một bệnh viện tuyến cuối và lần đầu triển khai ở Việt Nam là vấn đề cần được nghiên cứu.
Vừa qua, tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Tùng cùng cộng sự Học viện Quân Y báo cáo đề tài nghiên cứu “Hiệu quả ban đầu của chương trình giám sát sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Chợ Rẫy”.
Theo tác giả nghiên cứu, về phương pháp đã tiến hành nghiên cứu mô tả hàng loạt ca từ kết quả chương trình Giám sát kháng sinh thí điểm tại 6 khoa lâm sàng tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 4/2014 đến tháng 12/2015. Các khoa lâm sàng thí điểm được chọn ngẫu nhiên 20 bệnh nhân tại mỗi khoa lâm sàng. Một dược sĩ lâm sàng kết hợp với một bác sĩ lâm sàng tại khoa đang điều trị thảo luận, xem xét đánh giá trên từng bệnh nhân cụ thể để xác định tỷ lệ tuân thủ, đáp ứng điều trị. Dữ liệu vi sinh, kiểm soát nhiễm khuẩn và lượng kháng sinh sử dụng được lấy từ báo cáo của các khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Vi sinh và khoa Dược. Kết quả giám sát sẽ được tổng hợp và báo cáo định kỳ trong kỳ họp ban Giám sát hàng tháng.
Tác giả nghiên cứu cho biết, mục tiêu nghiên cứu là xác định hiệu quả ban đầu khi triển khai thí điểm Giám sát sử dụng kháng sinh tại 6 khoa lâm sàng. Nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu giám sát ngẫu nhiên từ các bệnh nhân đang điều trị tại 6 khoa lâm sàng. Các chỉ số đánh giá được theo dõi tỷ lệ tuân thủ gửi mẫu bệnh phẩm trước khi dùng kháng sinh, tỷ lệ tuân thủ kháng sinh ban đầu theo hướng dẫn sử dụng kháng sinh của bệnh viện. Bên cạnh đó, đánh giá kết quả điều trị, tỷ lệ chi phí kháng sinh sử dụng và tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện cũng như tình hình các vi khuẩn kháng thuốc tại bệnh viện. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ hướng dẫn sử dụng kháng sinh của bệnh viện tăng 6% trong năm 2015 so với năm 2014 (p=0,01). Tỷ lệ gửi mẫu bệnh phẩm trước khi sử dụng kháng sinh tăng 3% trong năm 2015 so với năm 2014. Tỷ lệ sử dụng kháng sinh năm 2014 giảm 3,88% so với 2013 và 2015 giảm 2,07% so với năm 2013. Trong khi đó, tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện có chiều hướng giảm, thời gian điều trị trung bình và tỷ lệ tử vong chung trong bệnh viện có giảm nhưng không thay đổi nhiều. Ngoài ra, tình hình vi khuẩn kháng thuốc được giám sát, theo dõi và báo cáo kịp thời.
Đối với tỷ lệ gửi mẫu bệnh phẩm: Gửi mẫu bệnh phẩm cấy trước khi sử dụng kháng sinh là một yêu cầu thiết yếu giúp cải thiện hiệu quả kháng sinh sử dụng. Kết quả nuôi cấy và kháng sinh đồ giúp đánh giá phần tầng nguy cơ, các yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn và thực hiện liệu pháp xuống thang. Ngoài ra, đây sẽ là dữ liệu vi sinh quan trọng giúp cập nhật hướng dẫn sử dụng kháng sinh tại chỗ phù hợp với tình hình vi sinh. Tuy nhiên trong một số tình huống lâm sàng như ổ nhiễm khuẩn sâu, một số tiêu điểm không lấy được bệnh phẩm và ý thức của nhân viên về tầm quan trọng của kết quả vi sinh ảnh hưởng đến tỷ lệ gửi mẫu bệnh phẩm trước khi dùng kháng sinh. Chương trình Giám sát sử dụng kháng sinh giúp tăng khả năng nhận thức về tầm quan trọng của kết quả vi sinh, xây dựng quy trình nuôi cấy, kháng sinh đồ và phản hồi kết quả. Trong chương trình này, nhận thấy tỷ lệ gửi mẫu bệnh phẩm trước khi dùng kháng sinh của các khoa Ngoại thấp hơn tại các khoa Nội, có lẽ một phần là do đặc điểm bệnh lý nhưng cũng có phần là do ý thức về tầm quan trọng của kết quả vi sinh khác nhau giữa các bác sĩ. Tuy nhiên tỷ lệ gửi mẫu bệnh phẩm trước khi dùng kháng sinh chung của cả 6 khoa lâm sàng tăng 3% trong năm 2015 so với năm 2014.
Đối với tỷ lệ tuân thủ hướng dẫn sử dụng kháng sinh: Mặc dù từ năm 2010, hướng dẫn sử dụng kháng sinh của bệnh viện cũng đã được ban hành trên cơ sở dữ liệu vi sinh bệnh viện. Tuy nhiên, việc tuân thủ hướng dẫn sử dụng kháng sinh vẫn còn hạn chế. Nhiều trường hợp kháng sinh được sử dụng theo kinh nghiệm cá nhân của các bác sĩ. Đến năm 2014, khi giai đoạn giám sát được triển khai, tỷ lệ tuân thủ hướng dẫn sử dụng kháng sinh theo hướng dẫn của bệnh viện dần dần được cải thiện. Cho dù chương trình triển khai thí điểm tại 6 khoa lâm sàng nhưng hiệu ứng của nó lan tỏa trong toàn bệnh viện. Các nhân viên y tế đã ý thức hơn sử dụng kháng sinh và luôn cân nhắc mỗi khi sử dụng kháng sinh cho người bệnh. Đến năm 2015, tỷ lệ tuân thủ hướng dẫn sử dụng kháng sinh của bệnh viện lên 63% nhưng vẫn chưa đạt chỉ tiêu 70% như kế hoạch đề ra. Trong buổi họp tổng kết một năm thực hiện, các thành viên đã thảo luận lý do, tìm giải pháp cải tiến. Các lý do được các thành viên đưa ra là tình hình quá tải của bệnh viện, kiểm soát nhiễm khuẩn còn gặp nhiều khó khăn và tình hình vi khuẩn kháng thuốc có nhiều thay đổi. Trên cơ sở ý kiến thảo luận, bệnh viện đã tiến hành cập nhật hướng dẫn sử dụng kháng sinh trong năm 2016 và cập nhật các phác đồ điều trị mới theo hướng dẫn của các Hiệp hội chuyên ngành cũng như Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế năm 2015. Ngoài ra, tỷ lệ đáp ứng của bệnh nhân có nhiễm khuẩn khi được sử dụng kháng sinh theo hướng dẫn của bệnh viện đạt 87,7% chứng tỏ hướng dẫn sử dụng kháng sinh hiện tại vẫn còn phù hợp với tình hình đề kháng kháng sinh của bệnh viện.
Tác giả nghiên cứu cho biết về tỷ lệ chi phí kháng sinh sử dụng: Kể từ khi chương trình giám sát sử dụng kháng sinh được thực hiện, tỷ lệ sử dụng kháng sinh có xu hướng giảm. Tỷ lệ sử dụng kháng sinh năm 2014 giảm 3,88% so với 2013 và 2015 giảm 2,07% so với năm 2013. Bên cạnh đó, các kháng sinh cần kiểm soát cũng được duy trì ở mức cho phép. Trong khi đó, tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện, thời gian nằm viện trung bình và tỷ lệ tử vong trong bệnh viện có chiều hướng giảm xuống. Đây là một thành công bước đầu của chương trình giám sát sử dụng kháng sinh của bệnh viện. Tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh giảm đáng kể trong năm 2014 (3,88% so với năm 2013). Tuy nhiên, đến năm 2015, tỷ lệ này là 18,41% không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với năm 2014. Điều này có ý nghĩa tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh chỉ giảm trong giai đoạn đầu chương trình, sau đó ổn định ở mức cho phép.
Đối với tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện: Mặc dù tỷ lệ sử dụng kháng sinh giảm nhưng tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện đã được kiểm soát và có chiều hướng tiếp tục giảm. Kết quả có được là nhờ vào nỗ lực của hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện và toàn thể nhân viên y tế. Bằng chứng là tỷ lệ tuân thủ rửa tay ngày càng tăng, chăm sóc đường thở cho bệnh nhân thở máy và chăm sóc vết mổ được cải thiện. Chính vì vậy mà các tỷ lệ viêm phổi liên quan đến thở máy, nhiễm khuẩn vết mổ và nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan đến thông tiểu đã giảm trong các năm từ 2012-2015.
Về hiệu quả của chương trình: Bệnh viện Chợ Rẫy là một trong những bệnh viện đầu tiên trong cả nước thực hiện chương trình giám sát sử dụng kháng sinh tại Việt Nam, trên cơ sở học tập kinh nghiệm của các quốc gia khác trên thế giới, sự hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoài nước, đặc biệt của Bộ Y tế. Những thành công bước đầu này nhờ vào sự quyết tâm của lãnh đạo bệnh viện, của tập thể nhân viên đặc biệt là nhóm hành động, sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, có đơn vị đầu mối và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị. Chìa khóa cho sự thành công ban đầu này là nhờ Bệnh viện áp dụng 7 thành tố cơ bản của chương trình Giám sát sử dụng kháng sinh từ Tổ chức Y tế Thế giới.
Tác giả nghiên cứu có nhận xét, thực hiện biện pháp giám sát bằng công nghệ thông tin đòi hỏi phải có một hệ thống công nghệ thông tin tốt. Đây là giai đoạn khởi đầu của chương trình Giám sát sử dụng kháng sinh lần đầu tiên áp dụng tại một bệnh viện hạng đặc biệt của Việt Nam với quy mô giường bệnh và số lượng nhân viên lớn. Mặt khác, triển khai giám sát hồi cứu hồ sơ và phản hồi định kỳ trong các buổi họp hàng tháng chưa phải là giải pháp tối ưu. Lẽ ra, can thiệp phải được thực hiện tại thời điểm kê toa để đảm bảo sử dụng kháng sinh hiệu quả cho từng bệnh nhân. Tuy nhiên, phương pháp này cần có nhiều nguồn lực đặc biệt ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin để giám sát trực tiếp, liên tục.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, chương trình Giám sát sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Chợ Rẫy bước đầu mang lại kết quả tốt. Tỷ lệ tuân thủ gửi mẫu bệnh phẩm trước khi dùng kháng sinh, tỷ lệ tuân thủ hướng dẫn sử dụng kháng sinh của bệnh viện tăng, tỷ lệ chi phí kháng sinh sử dụng giảm, thời gian điều trị trung bình và tỷ lệ tử vong không thay đổi. Trong khi đó, tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện và đề kháng kháng sinh được theo dõi và giám sát chặt chẽ. Chương trình nên tiếp tục triển khai trên toàn bệnh viện./.
Hoa Đăng