[Đăng ngày: 04/08/2016]
U sinh dục ở trẻ em là bệnh lý hiếm gặp. Trên thế giới có một số nghiên cứu cho thấy u buồng trứng chiếm khoảng 6% toàn bộ u trẻ em còn u tinh hoàn gặp ít hơn, chỉ chiếm 3% toàn bộ u trẻ em. Tại Việt Nam, nghiên cứu về bệnh lý này còn rất ít.  
U sinh dục ở trẻ em là bệnh lý khó chẩn đoán về lâm sàng cũng như giải phẫu bệnh. Về lâm sàng, ở trẻ nữ do vị trí của buồng trứng nằm sâu trong ổ bụng nên thường chẩn đoán muộn. Còn về giải phẫu bệnh, những loại u ác tính có hình thái tế bào học đa dạng. Nhiều trường hợp tế bào biệt hóa kém nên khó xác định nguồn gốc tế bào.
Từ năm 1982 đến 2012, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Anh Quốc, Trần Minh Lâm, Hứa Thị Ngọc Hà – Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Nhi Đồng Tp. Hồ Chí Minh, Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm giải phẫu bệnh u sinh dục trẻ em”. Đối tượng nghiên cứu có 398 ca; bệnh phẩm là các mẫu sinh thiết được gởi đến phòng giải phẫu bệnh. Sau đó các mẫu được cố định bằng formol buffer, khử nước và vùi nến, cắt lát mỏng 3 micrometre và được nhuộm bằng phương pháp HE (Hematoxyline và Eosine).
Thu thập dữ liệu bệnh nhân (tuổi, giới, vị trí u, kích thước u, hình dạng đại thể u) từ sổ và phiếu lưu trữ tại khoa giải phẫu bệnh. Khảo sát vi thể dưới kính hiển vi quang học. Một số ca khó chẩn đoán được nhuộm thêm PAS, Trichrom và hóa mô miễn dịch. Xếp loại mô học dựa theo bảng phân loại của Tổ chức Y tế thế giới của u tinh hoàn và u buồng trứng.
Theo phân tích của BS. Nguyễn Anh Quốc, có sự khác biệt rất lớn về phân bố tuổi của 2 giới. Trong nghiên cứu này u tinh hoàn thường gặp ở nhóm tuổi < 5 tuổi chiếm 84% và không có trường hợp nào trên 13 tuổi. Tuy nhiên u buồng trứng lại phân bố khá đồng đều ở các nhóm tuổi từ sơ sinh cho đến 15 tuổi. Tỷ lệ nam/nữ nghiên cứu này là ¼ cho thấy thấp hơn thống kê của Bệnh viện Nhi Đồng 1 là tỷ lệ nam/nữ khoảng ½.
Tuổi trung bình của nam trong nghiên cứu này là 3 tuổi, thường gặp ở tuổi < 5 tuổi là 84,3%. Tuổi trung bình của nữ là 8,8 tuổi cao hơn nam gần 5 tuổi. Tuổi càng nhỏ thì khả năng ác tính càng cao và tỷ lệ ác tính của u tinh hoàn là 65,8% cao hơn u buồng trứng 14,4%. Tương quan có nghĩa thống kê (p<0,05).
Đối với kích thước u, u tinh hoàn phần lớn có kích thước < 5cm (73,7%). Kích thước trung bình của u là 4,3cm. Trong nghiên cứu này, u tinh hoàn < 5cm tỷ lệ ác tính là 60,6% và trên 5cm tỷ lệ ác tính là 75%. Tuy nhiên mối tương quan này không có ý nghĩa thống kê. U buồng trứng kích thước trung bình 7,0cm cao gần 3cm so với u tinh hoàn. Với u buồng trứng, kích thước càng lớn thì độ ác tính càng cao và mối tương quan có ý nghĩa thống kê với u < 5cm chỉ có 2,8% ác tính, trong khi đó với u > 5cm tỷ lệ ác tính lên đến 20,2%, kết quả này phù hợp với kết quả của Bệnh viện Nhi Đồng 1 là u buồng trứng càng lớn thì tỷ lệ ác tính càng cao.
Với u tinh hoàn, u dễ phát hiện khi đủ lớn bằng khám lâm sàng, đây cũng là dấu hiệu chính khi cha mẹ đưa trẻ đến khám. Còn với u buồng trứng cần phải trợ giúp thêm của hình ảnh học nên u thường có kích thước lớn khi mới phát hiện.
Về đại thể u được phân chia làm 3 dạng: đặc, bọc và dạng hỗn hợp vừa có thành phần bọc vừa có thành phần đặc. U bọc thường gặp trong nhóm u thượng mô tạo nên cấu trúc bọc bên trong chứa dịch trong hoặc nhầy đây là nhóm mô học thường lành tính ở trẻ em. U đặc gặp nhiều trong u xoang nội bì phôi, carcinôm phôi nên về đại thể, u bọc có tỷ lệ ác tính cao hơn u đặc. Kết quả của nghiên cứu u tinh hoàn chủ yếu là u đặc 73,3% u buồng trứng chủ yếu là u bọc 65,5%; u đặc có tỷ lệ ác tính là: 73,6% cao hơn dạng còn lại là dạng u bọc hoặc u có thành phần bọc và đặc với tỷ lệ ác tính chỉ có 6,5%, tương quan này có ý nghĩa thống kê.
Về loại mô học có u thượng mô, u mầm bào và u mô đệm đục. Theo tác giả nghiên cứu u mầm bào là loại u sinh dục thường gặp nhất ở trẻ em, tuổi càng nhỏ thì xuất độ u mầm bào càng cao. Tuổi càng nhỏ, u mầm bào càng dễ ác tính. Ở người lớn u thường lành tính với cấu trúc mô học thường gặp là u quái lành và u bọc bì lành.
Trong nghiên cứu này tuổi của trẻ em nam mắc bệnh thấp hơn so với tuổi của trẻ em nữ nên tỷ lệ mắc u mầm bào cũng cao hơn: 94,8% ở trẻ nam so với 74,5% ở trẻ nữ.
Hồng Sơn
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 126

Số lượt truy cập: 9359207

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang