
Đưa hóa chất không độc Visudyne (Veteporfine được bọc trong vỏ Liposomes giúp hòa tan trong máu) vào cơ thể qua đường tĩnh mạch. Hóa chất này thời gian bán hủy từ 4-6 giờ, đào thải khỏi cơ thể sau 24 giờ. Thuốc có ái tính với Lipoprotein đặc biệt là các lipoprotein có trọng lượng phân tử nhẹ (LDL). Trong khi đó bề mặt tế bào nội mô tân mạch (thành của các mạch máu không hoàn chỉnh) có rất nhiều thụ thể cho các LDL bám vào. Chính vì thế, thuốc có ái tính chọn lọc tại nội mô các tân mạch. Mặt khác, thuốc có phổ hấp phụ ánh sáng trong khoảng 680-695nm, phổ này tương ứng với phổ tác dụng của laser Diade không gây nhiệt, nhờ đó tác dụng phá hủy do nhiệt năng ở các bộ phận lân cận rất hạn chế. Hơn nữa với phổ ánh sáng tương ứng bước sóng ánh sáng đỏ, laser có thể đi tới tác dụng ở các lớp sâu dưới lớp biểu mô sắc tố và xuyên qua được lớp máu, dịch loãng. Phổ tác dụng của thuốc không trùng với bất cứ mô tự nhiên lân cận nào, nhờ đó dưới tác dụng của laser, hầu như chỉ có thuốc bị kích hoạt.
Kích hoạt hóa chất bằng laser: Visudyne trong cơ thể bị kích hoạt bởi laser Diade 690nm sẽ nhanh chóng biến đổi để trở về trạng thái ban đầu và giải phóng ra năng lượng. Năng lượng này tác dụng vào các phân tử cạnh đó giải phóng ra các gốc oxy tự do và các gốc tự do khác. Các gốc này có tác dụng gây độc hại cho tế bào, đặc biệt các tế bào nội mô tân mạch (nơi tập trung nhiều hóa chất nhất). Các tế bào nội mô trương phồng, thoái hóa gây dính kết tiểu cầu trong lòng mạch và cuối cùng dẫn đến tắc các tân mạch.
Nhóm tác giả nghiên cứu Bùi Thị Vân Anh cùng cộng sự bệnh viện Mắt Trung Ương tiến hành nghiên cứu trong thời gian 1 năm nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả của laser quang động lên tân mạch dưới hoàng điểm cũng như các biến chứng của phương pháp điều trị.
Bác sĩ Bùi Thị Vân Anh cho biết, đối tượng nghiên cứu là những mắt bị thoái hóa hoàng điểm tuổi già thể ướt (có tân mạch dưới hoàng điểm) đến khám trong khoảng thời gian 2001-2002 tại bệnh viện CHIC de Tarbes, cộng hòa Pháp.

Phương pháp nghiên cứu mô tả phương pháp điều trị; bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu được khám lâm sàng, khám toàn thân và chụp mạch huỳnh quang để đánh giá tình trạng tổn thương đáy mắt trước điều trị.
Phương tiện điều trị: Laser bước sóng 690nm, chùm tia chiếu liên tục, kính 3 mặt gương, bơm tiêm tĩnh mạch chậm, thuốc Visudyne (Verteporfine) 15mg pha nồng độ 2mg/ml, kính bảo vệ mắt sau điều trị.
Liệu trình điều trị: tiêm Visudyne tĩnh mạch liều 6mg/m2 bề mặt cơ thể. Thời gian tiêm 10 phút, tốc độ 3ml/phút. Chiếu Laser: liều 600mW/cm2 bề mặt, thời gian chiếu 83s, cường độ 50J/cm2, đường kính vết đốt bằng đường kính lớn nhất của tổn thương cộng thêm 1000µ, không vượt quá 5500µ, điều trị qua vết tổn thương 500µ và cách bờ gai thị ít nhất 200µ. Sau Laser bệnh nhân sử dụng kính bảo vệ tránh ánh sáng trong vòng 48 giờ.
Các biến đổi về thị lực, kích thước tổn thương, được thu thập và phân tích sau 1 năm điều trị.
Hiệu ứng laser quang động: về mặt chức năng, laser quang động đã bảo tồn được một phần chức năng cho bệnh nhân có thị lực thấp thông qua tác động tiêu bớt tân mạch võng mạc. Về giải phẫu, laser quang động gây xơ hóa, thoái hóa teo và giới hạn sự lan tỏa trên bề mặt của tân mạch, gây tổn thương mức tối thiểu cho võng mạc và biểu mô sắc tố ở lân cận. Laser có thể làm giảm lưu lượng mao mạch hắc mạch một cách thoáng qua nhưng không gây tác động lên những mạch máu lớn. Hiệu ứng xơ mạch gây co kéo làm màng xơ mạch có ranh giới rõ nét, đều hơn và biểu hiện dạng đường cong lõm. Tuy nhiên tình trạng xơ mạch gây co kéo quá nhiều có thể gây rạn nứt lớp biểu mô sắc tố, xuất huyết gây giảm thị lực. Tình trạng thoái hóa teo sau laser trên những mắt có kết hợp thoái hóa hoàng điểm tuổi già dạng địa đồ có thể gây tình trạng teo biểu mô sắc tố tỏa lan và gây giảm sút thị lực trầm trọng.
Laser quang động trên những mắt có bong biểu mô sắc tố: có 5 mắt có biểu hiện của bong biểu mô sắc tố với tân mạch dưới vùng bong. Việc laser trên những mắt này dường như không có hiệu quả với: 1 ca vùng tân mạch hoàn toàn không thay đổi, 3 ca có biểu hiện vùng bong biểu mô sắc tố và tân mạch giảm nhưng không hết (2 trường hợp sau 3 lần laser, 1 trường hợp sau 4 lần laser), 1 ca có biến chứng xuất huyết dưới võng mạc vùng hoàng điểm gây giảm thị lực trầm trọng. Điều này cho thấy cần hết sức cân nhắc khi tiến hành laser quang động trên những mắt có biểu hiện bong biểu mô sắc tố võng mạc. Nhận định này của nhóm nghiên cứu phù hợp với các tác giả trong nghiên cứu TPA.
Cho tới nay, việc xử lý tân mạch dưới võng mạc vùng hoàng điểm đã có những bước tiến mới. Các nhà nhãn khoa sử dụng các thuốc antivegl để tiêm giúp thoái triển tân mạch. Tuy nhiên các tác dụng phụ cũng như giá thành khiến cho việc sử dụng antivegl vẫn chưa thực sự phổ biến và chưa hoàn toàn thay thế phương pháp laser.
Kết luận nghiên cứu, tác giả cho rằng laser quang động là phương pháp có hiệu quả trong điều trị tân mạch dưới võng mạc vùng hoàng điểm, nhất là những trường hợp có tân mạch dạng cổ điển. Điều trị bằng laser quang động giúp bảo tồn một phần thị lực cho bệnh nhân có thị lực thấp.
Lâm Quyên