Theo thống kê của Việt Nam, năm 2002 có khoảng 180 nghìn sơ sinh non tháng trên tổng số gần 1,6 triệu sơ sinh chào đời, 1/5 số các trẻ sơ sinh non tháng này tử vong.
Tỷ lệ tử vong của nhóm sơ sinh non tháng cao gấp 20 lần nhóm đủ tháng. Chăm sóc và điều trị trẻ non tốn kém hơn rất nhiều về kinh tế và thời gian so với trẻ đủ tháng. Đẻ có thể hạn chế tỷ lệ đẻ non cần có các phương pháp chẩn đoán sớm tình trạng dọa đẻ non để có thể can thiệp kịp thời.

Chẩn đoán dọa đẻ non được đưa ra dựa vào tiêu chuẩn lâm sàng là xuất hiện cơn co tử cung gây đau bụng và làm biến đổi cổ tử cung (xóa hoặc mở). Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, chẩn đoán dọa đẻ non là rất khó khăn vì các triệu chứng nghèo nàn nên chẩn đoán dọa đẻ non chỉ chính xác khi chuyển dạ vào giai đoạn muôn. Hiện nay, có rất nhiều các nghiên cứu khoa học đưa ra các phương pháp thăm dò cận lâm sàng nhằm chẩn đoán chính xác hơn và sớm hơn tình trạng dọa đẻ non. Trong cơ chế đẻ non, CTC sẽ bị biến đổi để làm xóa và mở cổ tử cung. Quá trình xóa mở cổ tử cung đòi hỏi phải biến đổi cấu trúc cổ tử cung từ khối mô liên kết vững chắc thành mô mềm dẻo có thể mở rộng 10cm giúp cho thai nhi thoát ra ngoài khi chuyển dạ. Trong quá trình biến đổi này, rất nhiều tế bào miễn dịch và chất miễn dịch được huy động đến cổ tử cung để ly giải các mô liên kết ở đây. Một trong các chất miễn dịch quan trọng là interleukin-8 (IL-8). Do đó, nếu có thể phát hiện sự tăng lên sớm của IL-8 tại CTC thì chúng ta có thể chẩn đoán sớm dọa đẻ non để có thể can thiệp kịp thời, mang lại kết quả điều trị tốt hơn cho thai phụ và trẻ sơ sinh.
Từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Đỗ Tuấn Đạt cùng cộng sự Bộ môn Phụ sản – trường Đại học Y Hà Nội; Bệnh viện đa khoa Tâm Anh; Học viện Quân y thực hiện nghiên cứu mô tả tiến cứu, phân tích báo cáo đề tài “Khảo sát nồng độ interleukin trong dịch cổ tử cung của thai phụ dọa đẻ non và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Phụ sản Trung ương”.
Đối tượng nghiên cứu là 134 sản phụ có dấu hiệu dọa đẻ non được nhập viện điều trị tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1/2014 – tháng 12/2014. Các sản phụ có tuổi thai từ 28-34 tuần đồng ý tham gia nghiên cứu và không có các tiêu chuẩn loại trừ được chọn vào nghiên cứu.

Bác sĩ Đỗ Tuấn Đạt báo cáo kết quả nghiên cứu, phần lớn thai phụ nằm trong lứa tuổi từ 20-29 tuổi chiếm 67,9%. Lứa tuổi dưới 19 và trên 40 chiếm tỷ lệ nhỏ. Điều này tương tự với các nghiên cứu khác về đẻ non vì 20-35 tuổi là lứa tuổi mà cơ thể người phụ nữ dễ thụ thai nhất so với các lứa tuổi khác. Trong số 134 thai phụ thì 77 thai phụ là mang thai lần đầu chiếm 57,5% và 57 thai phụ mang thai từ lần thứ hai chiếm 42,5%. Trong quá trình theo dõi, số thai phụ đẻ non chiếm 38,8% và đẻ đủ tháng chiếm 61,2%. Nghiên cứu có tỷ lệ đẻ non cao hơn tỷ lệ đẻ non trong quần thể người Việt Nam vào khoảng 10% vì nghiên cứu chủ động lựa chọn những thai phụ có triệu chứng của dọa đẻ non phải nhập viện điều trị.
Tuổi thai trung bình của thai phụ khi nhập viện là 30,7 + 2,2 tuần và tuổi thai trung bình khi đẻ là 36,8+ 4,1 tuần. Thời gian giữ thai trung bình là 41+25 ngày. Nhóm chuyển dạ đẻ non trong vòng 7 ngày sau khi nhập viện điều trị là 13 thai phụ chiếm 9,7%, nhóm giữ được thai trên 7 ngày chiếm 90,3%. Nhóm chuyển dạ đẻ trong vòng 14 ngày là 25 thai phụ chiếm 18,7%. Nhóm chuyển dạ đẻ sau 14 ngày chiếm 81,3%.
Hiện nay các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy có nhiều phương pháp có thể hạn chế tỷ lệ đẻ non ở những thai phụ có tiền sử đẻ non như dùng thuốc nội tiết bổ sung progesterone hoặc khâu vòng CTC. Các thai phụ tại bệnh viện Phụ sản trung ương được theo dõi thai tại đây và được dự phòng đẻ non ngay từ đầu nên đã hạn chế được tỷ lệ đẻ non ở nhóm có nguy cơ cao này.
Tác giả nghiên cứu có kết luận nồng độ IL-8 dịch CTC trong nhóm thai phụ dọa đẻ non là 23,71+11,53pg/ml. Nồng độ IL-8 dịch CTC không phụ thuộc vào tuổi mẹ, tuổi thai, không phụ thuộc vào tình trạng viêm CTC và nồng độ CRP huyết thanh mẹ. nồng độ IL-8 dịch CTC liên quan chặt chẽ tới chiều dài CTC, thời gian giữ thai 7 ngày và 14 ngày. Nồng độ IL-8 không phụ thuộc vào thời gian giữ thai sau 14 ngày. Định lượng nồng độ IL-8 là một thăm dò không xâm lấn, liên quan chặt chẽ đến thời gian giữ thai và có thể được sử dụng để tiên lượng khả năng đẻ non.
Mai Trang