[Đăng ngày: 20/03/2019]
Tại Việt Nam, báo cáo tình hình dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên toàn quốc cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở những người từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, trong đó nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, niền Bắc nhiều hơn miền Nam. Các yếu tố tiên lượng tử vong gồm tuổi, mức độ khó thở theo MRC, FEV1 so với giá trị dự đoán, nhiều đợt cấp trong tiền sử, bệnh đồng phát, tiền sử sử dụng Corticosteroid đường uống kéo dài, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng nguy cơ. Một số nghiên cứu ở Việt Nam nhận xét tỷ lệ bệnh nặng và tử vong trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 10% đến 18%. Các yếu tố tiên lượng nặng cho bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gồm rối loạn tri giác, nhịp thở > 30 lần/phút, chỉ số pH PaCO2, PaO2/FiO2, FEV1 so với giá trị dự đoán. Việc quản lý và điều trị dự phòng, tránh các đợt bùng phát cấp tính gây đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phải nhập viện là điều cần thiết và nên làm nhằm đem lại hiệu quả thiết thực, cải thiện được chức năng hô hấp, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Từ tháng 2/2014 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thế Hiền cùng cộng sự Khoa Y Dược, trường Đại học Trà Vinh thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang”.

Có 120 đối tượng nghiên cứu tham gia, đối tượng nghiên cứu đã có chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước đó: dựa vào kết quả đo chức năng hô hấp từ hồ sơ quản lý ngoại trú trong vòng 12 tháng với FEV1/FVC < 70% sau dùng thuốc giãn phế quản. Bệnh nhân chưa được chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: chẩn đoán sơ bộ theo thang điểm CT-COPD: tiêu chuẩn lâm sàng > 140 điểm hoặc tiêu chuẩn lâm sàng và X quang ngực > 210 điểm. Các bệnh nhân này được tái chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sau xuất viện 8 tuần bằng cách đo chức năng hô hấp ở phòng khám hô hấp: FEV1/FVC < 0,7 sau dùng thuốc giãn phế quản.

Tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: dựa trên ba triệu chứng lâm sàng chính là: khó thở, tăng lượng đàm và đàm có nhầy mủ.

Đối với khí máu động mạch:
pH máu: kết quả pH máu trong đợt cấp nhập viện là 7,30 + 0,12, tương tự với kết quả của Đỗ Thị Tường Oanh là 7,37 + 0,12; của Trần Xuân Quỳnh là 7,38 + 0,08. Kết quả này theo Soler CJ (2005) là 7,16 + 0,11 và theo Aburto M là 7,28 + 4,09. Cỡ mẫu trong nghiên cứu của Soler cao hơn trong nghiên cứu, tiêu chuẩn chọn bệnh nhân của Aburto là bệnh nhân suy hô hấp tăng CO2 máu. Do đó, pH trung bình trong các nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả.

PaCO2: PaCO2 trong đợt cấp nhập viện kết quả có trung bình 54,34 + 20,84. Kết quả này cũng tương đương với nghiên cứu của Đỗ Thị Tường Oanh (2000) có PaCO2 là 50,56 + 12,62 mmHg, của Trần Xuân Quỳnh (2014) là 47 mmHg. Theo Soler CJ (2005) và Aburto M (2011), PaCO2 trung bình lần lượt là 84 + 21,1 mmHg và 72 + 20,7 mmHg. Kết quả này trong nghiên cứu của Groenwegen Kh (2003) là 6,74 + 2,1 kPa. Cỡ mẫu trong nghiên cứu của Soler cao hơn, tiêu chuẩn chọn bệnh nhân của Aburto là bệnh nhân suy hô hấp tăng CO2 máu. Do đó, PaCO2 trung bình trong các nghiên cứu này cao hơn.

PaO2: kết quả PaO2 trung bình trong đợt cấp nhập viện trong nghiên cứu là 75, 28 + 29,15 mmHg; PaO2 trung bình của Đỗ Thị Tường Oanh (2000) là 60,71 + 11,33 mmHg;  của Trần Xuân Quỳnh là 79,2 + 24,8 mmHg; Theo Soler CJ (2005) là 72,8 + 12,8 mmHg; Aburto M (2011) là 53,3 + 16,6 mmHg; theo Groenwegen Kh là 7,49 + 2,2 kPa; theo Garcia Aymerich là 8,5 + 1,7 kPa.

HCO3: trong nghiên cứu, HCO3 trong đợt cấp nhập viện là 25,66 + 4,7 mmol/l. Kết quả này theo tác giả Đỗ Thị Tường Oanh là 29,2 + 6,05 mmol/l; của Trần Xuân Quỳnh là 25,5 + 4,2 mmol/l. Qua kết quả khí máu cho chúng ta thấy đa số có giảm oxy máu (trung bình 75,28 mmHg), tình trạng tăng thán (trung bình 54,35 mmHg); có 53,33% bệnh nhân suy hô hấp tăng thán, trong số này đa số (85,5%) là suy hô hấp cấp trên nền mạn tính. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đó.

Bác sĩ Phạm Thế Hiền có kết luận, tỷ lệ rối loạn tri giác là 32,5%. Dấu hiệu sinh tồn: mạch nhanh 102 lần/phút và nhịp thở nhanh 28 lần/phút. Triệu chứng suy hô hấp: xanh tím chiếm 42,50%, 100% co kéo cơ hô hấp phụ mức độ trung bình – nặng và độ bão hòa oxy trung bình là 88,47%. Có 43,3% bệnh nhân có phù chi dưới. Số lượng bạch cầu trung bình 11050/mm3. Nồng độ CRP trung bình là 78 mg/dl. Khí máu động mạch: pH máu trung bình 7,30, PaCO2 = 54,34 mmHg, PaO2 = 75,28 mmHg, HCO3 = 25,66 mmol/l. Tỷ lệ rối loạn nhịp trên điện tâm đồ là 42,5% và 35% dày nhĩ phải.
Hoa Phượng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 69

Số lượt truy cập: 9286134

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang