[Đăng ngày: 12/03/2019]
Tại Việt Nam, báo cáo tình hình dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên toàn quốc cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở những người từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, trong đó nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, niền Bắc nhiều hơn miền Nam. Các yếu tố tiên lượng tử vong gồm tuổi, mức độ khó thở theo MRC, FEV1 so với giá trị dự đoán, nhiều đợt cấp trong tiền sử, bệnh đồng phát, tiền sử sử dụng Corticosteroid đường uống kéo dài, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng nguy cơ.

Một số nghiên cứu ở Việt Nam nhận xét tỷ lệ bệnh nặng và tử vong trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 10% đến 18%. Các yếu tố tiên lượng nặng cho bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gồm rối loạn tri giác, nhịp thở > 30 lần/phút, chỉ số pH PaCO2, PaO2/FiO2, FEV1 so với giá trị dự đoán. Việc quản lý và điều trị dự phòng, tránh các đợt bùng phát cấp tính gây đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phải nhập viện là điều cần thiết và nên làm nhằm đem lại hiệu quả thiết thực, cải thiện được chức năng hô hấp, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Từ tháng 2/2014 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thế Hiền cùng cộng sự Khoa Y Dược, trường Đại học Trà Vinh thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang”.

Có 120 đối tượng nghiên cứu tham gia, đối tượng nghiên cứu đã có chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước đó: dựa vào kết quả đo chức năng hô hấp từ hồ sơ quản lý ngoại trú trong vòng 12 tháng với FEV1/FVC < 70% sau dùng thuốc dãn phế quản. Bệnh nhân chưa được chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: chẩn đoán sơ bộ theo thang điểm CT-COPD: tiêu chuẩn lâm sàng > 140 điểm hoặc tiêu chuẩn lâm sàng và X quang ngực > 210 điểm. Các bệnh nhân này được tái chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sau xuất viện 8 tuần bằng cách đo chức năng hô hấp ở phòng khám hô hấp: FEV1/FVC < 0,7 sau dùng thuốc dãn phế quản.

Tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: dựa trên ba triệu chứng lâm sàng chính là: khó thở, tăng lượng đàm và đàm có nhầy mủ.
Đối với điện tâm đồ: Trong cơ thể con người, hệ hô hấp và hệ tuần hoàn có mối liên hệ mật thiết. Thay đổi ở một cơ quan sẽ dẫn đến thay đổi ở cơ quan còn lại. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có thể làm thay đổi điện tâm đồ của bệnh nhân. Theo Ngô Quý Châu, 89,2% bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có biểu hiện điện tâm đồ bệnh lý. Rối loạn nhịp tim là nguyên nhân gây tử vong quan trọng ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Kết quả nghiên cứu ghi nhận điện tâm đồ bệnh nhân đợt cấp lúc nhập viện có 35,0% có dày nhĩ phải, có 42,5% rối loạn nhịp trong đó 25,83% có ngoại tâm thu thất và 16,67% có rung nhĩ. Kết quả này có cao hơn kết quả của Trần Quốc Hùng về các tỷ lệ như sóng p phế (20,2%), ngoại tâm thu thất (3,4%) và rung nhĩ (9,2%). Sự xuất hiện của p phế trên ECG có mối tương quan với trị số FEV1 (p = 0,001). Ngoại tâm thu thất trên ECG có mối tương quan với tình trạng đặt nội khí quản (P thở oxy = 0,046; P thở máy = 0,031). Khi phân tích tác giả nhận thấy  cả 3 biến trên đều có tương quan với tỷ lệ sống còn của bệnh nhân. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Fuso cho rằng loạn nhịp thất và rung nhĩ là 2 yếu tố dự đoán tử vong trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tỷ lệ bất thường trên điện tâm đồ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo Agarwal RL (2008) là 35,7%. Bất thường trên điện tâm đồ tăng theo giai đoạn GOLD: GOLD I 46%, GOLD II 50%, GOLD III 58%. Lê Thượng Vũ khảo sát loạn nhịp trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng điện tâm đồ lưu động ở 45 bệnh nhân cho tỷ lệ rối loạn nhịp cao hơn: 100% loạn nhịp trên thất và 89% loạn nhịp thất. Rối loạn nhịp nhanh là một tác dụng phụ được công nhận của thuốc kích thích beta giao cảm và thuốc kháng cholinergic, mà đây là các thuốc được dùng để kiểm soát triệu chứng của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Mặt khác, tình trạng phế nang căng phồng quá mức ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có thể làm kích thước và chức năng của tâm thất, dẫn đến giảm thể tích tuần hoàn và cung lượng tim, cuối cùng gây ra tăng nhịp tim.

Bác sĩ Phạm Thế Hiền có kết luận, tỷ lệ rối loạn tri giác là 32,5%. Dấu hiệu sinh tồn: mạch nhanh 102 lần/phút và nhịp thở nhanh 28 lần/phút. Triệu chứng suy hô hấp: xanh tím chiếm 42,50%, 100% co kéo cơ hô hấp phụ mức độ trung bình – nặng và độ bão hòa oxy trung bình là 88,47%. Có 43,3% bệnh nhân có phù chi dưới. Số lượng bạch cầu trung bình 11050/mm3. Nồng độ CRP trung bình là 78 mg/dl. Khí máu động mạch: pH máu trung bình 7,30, PaCO2 = 54,34 mmHg, PaO2 = 75,28 mmHg, HCO3 = 25,66 mmol/l. Tỷ lệ rối loạn nhịp trên điện tâm đồ là 42,5% và 35% dầy nhĩ phải.
Hồng Hoa

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 106

Số lượt truy cập: 9286413

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang