Từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thành Nam cùng cộng sự bệnh viện Bạch Mai, Học viện Quân Y thực hiện nghiên cứu mô tả, tiến cứu báo cáo đề tài “Nguyên nhân yếu tố nguy cơ tử vong ở trẻ sơ sinh bị suy hô hấp nặng cần thở máy ngay sau đẻ”.
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là tất cả trẻ sơ sinh sau sinh tại khoa Sản – Bệnh viện Bạch Mai được chẩn đoán là suy hô hấp nhập viện điều trị và phải thở máy tại phòng điều trị tích cực sơ sinh Khoa Nhi - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2015.

Bác sĩ Nam báo cáo, có 139 trẻ sơ sinh suy hô hấp ngay sau đẻ trong đó có 68 trẻ phải điều trị bằng máy thở, trẻ trai là 33 cháu chiếm 48,5% còn trẻ gái là 35 cháu chiếm 51,5%. Trong khi đó ở nhóm không phải thở máy xâm nhập trẻ trai là 47 trẻ chiếm 66,2% trong nhóm. Trong 68 trẻ có 42 trẻ được sinh mổ chiếm 61,7% trong đó mổ đẻ chủ động chưa chuyển dạ là 30 trường hợp chiếm đến 44,1%. Còn nhóm chứng số trẻ sinh mổ là 47 trẻ chiếm 66,2% và mổ đẻ chủ động chưa chuyển dạ chiếm 40,8% (29 trường hợp). Trong số 68 trẻ suy hô hấp phải thở máy có 47 trẻ được ra viện, chiếm tỷ lệ 69,1%, còn nhóm không thở máy xâm nhập ra viện 100%.
Mối liên quan Sản-Nhi trên thế giới được đề cập đến nhiều, việc thiết lập mối liên quan Sản-Nhi chặt chẽ nhằm hạn chế bệnh lý sơ sinh ngay sau đẻ đặc biệt là vấn đề hồi sức sơ sinh ngay sau đẻ với sự kết hợp nhịp nhàng của Sản khoa-Nhi khoa. Ước tính hàng năm có khoảng 100 triệu sơ sinh ra đời trên toàn thế giới, 10% trong số cần hỗ trợ hô hấp và 1% cần hồi sức tích cực. Mô hình kết hợp Sản Nhi thực sự quan trọng và hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh tại phòng đẻ đặc biệt hồi sinh trường hợp trẻ đẻ non cũng như trẻ đủ tháng mà mẹ có bệnh lý mạn tính từ trước khi mang thai hoặc trong quá trình mang thai góp phần hạn chế bệnh lý sau đẻ nhất là những trường hợp suy hô hấp sau sinh, trẻ non tháng. Trong nghiên cứu chỉ có 45 trường hợp có sự tham gia của bác sĩ Nhi trong hồi sức sơ sinh ngay sau đẻ những tỷ lệ tử vong vẫn chiếm 61,9%. Kết quả này do trẻ được sinh ra từ những sản phụ sinh có bệnh lý nội khoa nặng nề, ảnh hưởng đến thai nhi hoặc trẻ sinh cực non, cân nặng cực thấp hoặc ngạt nặng nên tỷ lệ sống không cao, tuy nhiên số trẻ ra viện ở nhóm có bác sĩ Nhi hồi sức là 32/68 trẻ (47%).

Bệnh viện Bạch Mai hoặc các bệnh viện đa khoa tập trung nhiều sản phụ bệnh lý nặng nên liên hệ giữa các chuyên khoa sâu với khoa Sản và khoa Nhi càng chặt chẽ hơn. Đây là các cơ sở có các bà mẹ mang bệnh nội khoa nặng nề như: bệnh tim nặng, bệnh thận, Lupus, đái tháo đường, bệnh máu, viêm não… nên tỷ lệ suy hô hấp ở trẻ sơ sinh khi bà mẹ này mang thai và sinh nở tăng lên. Trong nghiên cứu có tới 52 bà mẹ có bệnh lý nội khoa phải điều trị thì 15 trẻ sơ sinh sinh ra không qua khỏi mặc dù được hồi sức tích cực. Paul Khairy và cộng sự nhận thấy sản phụ có bệnh tim bẩm sinh mang thai và chuyển dạ đẻ ngoài các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe sản phụ còn tác động đến tình trạng của trẻ sơ sinh sau đẻ trong đó đẻ non và suy hô hấp chiếm tỷ lệ cao trong số trẻ sơ sinh cần hỗ trợ sau đẻ. Còn Steven và cộng sự đưa ra các yếu tố nguy cơ của hít phân su ở trẻ sơ sinh bao gồm: mẹ bị cao huyết áp, đái tháo đường thai kỳ, mẹ bị bệnh tim mạn tính làm tăng nguy cơ hít phân su ở trẻ sơ sinh.
Điểm Apgar sau đẻ, biểu hiện tình trạng ngạt, càng thấp ở những phút thứ nhất và phút thứ năm thì tỷ lệ tử vong sẽ tăng lên ở những trẻ suy hô hấp phải điều trị thở máy. Theo ghi nhận của tác giả nghiên cứu, tình trạng Apgar còn tồn tại <=7 điểm tại phút thứ năm thì tỷ lệ tử vong cao chiếm 66,7% số ca tử vong. Như vậy, việc trẻ còn trong tình trạng ngạt càng dài thì tỷ lệ tử vong càng tăng lên, chỉ số này càng khẳng định vai trò quan trọng của hồi sức sơ sinh ngay sau đẻ.
Bác sĩ Nam có kêt luận:
- Các nguyên nhân thường gặp gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh chủ yếu là các bệnh lý phổi hoặc liên quan đến phổi như ngạt, bệnh màng trong, viêm phổi … và tim bẩm sinh: còn ống động mạch lớn, tăng áp động mạch phổi… Đây là những nguyên nhân có thể can thiệp được.
- Các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị thở máy bao gồm: đẻ non, nhẹ cân, mổ đẻ chủ động chưa chuyển dạ, mẹ có bệnh lý nội khoa… Những yếu tố này có thể tiên lượng và can thiệp được như: tổ chức tốt hồi sức sơ sinh ngay sau đẻ với sự kết hợp với bác sĩ Nhi, can thiệp bệnh lý của bà mẹ bằng sự phối hợp chặt chẽ các chuyên khoa sâu trong bệnh viện.
- Tỷ lệ tử vong là 21/68 trường hợp trong nghiên cứu trong đó phần nhiều là trẻ cực non và cân nặng cực thấp, khả năng sống rất thấp.
Hoa Đăng