[Đăng ngày: 08/03/2019]
Hội chứng kháng phospholipid (Antiphospholipid syndrome APS) được đặc trưng bởi sự xuất hiện tình trạng tắc động mạch hoặc tắc tĩnh mạch hoặc các biến chứng sản khoa, đồng thời về mặt xét nghiệm thấy có mặt các kháng thể kháng phospholipid (aPL) trong máu. 

APS là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tắc các vi mạch trong bánh rau, từ đó gây nên biểu hiện như sảy thai liên tiếp trong 3 tháng đầu, thai chết lưu, thai chậm phát triển hoặc đẻ non, tiền sản giật nặng…. Theo một nghiên cứu đa trung tâm tiến hành trên 1000 bệnh nhân mắc APS, kết quả cho thấy biến chứng sản khoa hay gặp nhất trong quần thể nghiên cứu là sảy thai liên tiếp chiếm 35,4%, thai sảy-chết muộn chiếm 16,9%, đẻ non 10,6%, tiền sản giật 9,5%, sản giật 4,4%, thai chậm phát triển trong tử cung, thiểu ối. Như vậy các kháng thể aPL có thể gây nên các biến chứng sớm và cả các biến chứng sớm và cả các biến chứng muộn của thai kỳ.
Trong thời gian gần đây đã có nhiều nghiên cứu của Việt Nam tập trung vào vai trò của APS đối với bệnh lý sảy thai liên tiếp. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu lớn nào tập trung vào các biến chứng muộn của APS và mối liên quan của các biến chứng sớm và muộn của APS trong thai kỳ.

Vừa qua nhóm tác giả nghiên cứu Lê Thị Anh Đào cùng cộng sự Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu, phân tích báo cáo đề tài “Tìm hiểu tình trạng thai chậm phát triển trong tử cung ở thai phụ mắc hội chứng kháng phospholipid”.

Tiêu chuẩn lựa chọn là những bệnh nhân mới có thai, có tiền sử sảy thai 2 lần liên tiếp trở lên, tuổi thai khi sảy dưới hoặc bằng 12 tuần. Tiêu chuẩn loại trừ: những bệnh nhân đã có kết quả dương tính với aPL ở lần thứ nhất lại không xét nghiệm lần 2 sau 12 tuần; những bệnh nhân không tham gia theo phác đồ điều trị của nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu: đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu. Theo công thức tính cỡ mẫu áp dụng cho nghiên cứu, số lượng bệnh nhân cần thu thập là 254 bệnh nhân. Các bệnh nhân có tiền sử sảy thai liên tiếp khi mới có thai sẽ được khám, siêu âm để xác định tình trạng thai nghén hiện tại. Đồng thời bệnh nhân được làm các xét nghiệm tìm nguyên nhân sảy thai liên tiếp như xét nghiệm xác định aPL (lupus anticoagulant và anticardiolipin IgG và IgM), nhiễm sắc đồ, siêu âm đầu dò âm đạo, xét nghiệm máu khác. Các bệnh nhân cũng sẽ được khai thác kỹ tiền sử sảy thai liên tiếp cũng như tiền sử mắc các bệnh lý trong thai kỳ trước đó (thai chậm phát triển, thai sảy muộn, thai chết lưu muộn, thiểu ối, tắc mạch sau đẻ). Ở lần mang thai này, bệnh nhân sẽ được điều trị theo nguyên nhân, nếu mắc APS sẽ điều trị theo phác đồ heparin trọng lượng phân tử thấp 20mg/ngày và aspirin 100mg/ngày đến tuần 34 của thai kỳ và được chia thành hai nhóm sảy thai liên tiếp mắc APS và sảy thai liên tiếp không mắc APS. Cả hai nhóm bệnh nhân được theo dõi cho đến cuối thai kỳ và thời kỳ sau sinh để phát hiện các bệnh lý muộn của APS nếu có. Nghiên cứu được triển khai tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ 1/1/2012 đến 1/7/2014.

Bác sĩ Anh Đào phân tích báo cáo, trong 301 bệnh nhân có tiền sử sảy thai liên tiếp khi mới mang thai đến khám tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương có 34 bệnh nhân dương tính hai lần với một trong hai loại kháng thể aPL, được chẩn đoán mắc APS. Những kháng thể aPL mới phát hiện ở lần mang thai hiện tại có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng sảy thai liên tiếp vào quý I những lần mang thai trước. Nhóm nghiên cứu khai thác kỹ tiền sử mắc các bệnh lý muộn của APS như thai chậm phát triển trong tử cung, thiểu ối, tiền sản giật, thai chết lưu, sảy thai to… của các bệnh nhân và kết quả cho thấy: Tiền sử mắc một trong các bệnh lý này chiếm 14,7% bệnh nhân mắc APS cao hơn có ý nghĩa thống kê so với tỷ lệ 3,75% của nhóm không mắc APS. Vậy là những bệnh nhân mới phát hiện kháng thể aPL ở lần mang thai hiện tại nhưng đồng thời họ cũng có tỷ lệ mắc các bệnh lý của APS cao hơn hẳn nhóm bệnh nhân không có kháng thể aPL.

Bác sĩ Anh Đào kết luận nghiên cứu, trong quần thể bệnh nhân sảy thai liên tiếp mắc APS các kháng thể aPL đã có thể tồn tại từ thời gian trước và trong lần mang thai này vẫn tiếp tục đe dọa sự phát triển của thai nhi gây sảy thai ở quý I hoặc thai chậm phát triển trong tử cung, thiểu ối nếu không được điều trị sớm và đúng liều lượng.
Hồng Hoa

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 105

Số lượt truy cập: 9286413

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang