Hội chứng chuyển hóa là hội chứng gồm yếu tố nguy cơ của nhồi máu cơ tim cấp như đái tháo đường, rối loạn đường máu đói, béo bụng, rối loạn lipit máu và tăng huyết áp.

Người bị hội chứng chuyển hóa có nguy cơ tử vong tăng gấp đôi; nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp hoặc đột quỵ tăng gấp 3 lần so với người không có hội chứng chuyển hóa. Đối với gan nhiễm mỡ có 2 dạng, gan nhiễm mỡ do rượu và không do rượu. Cả hai dạng đều có tình trạng liên quan đến sự tích tụ mỡ tại gan, được xem là biểu hiện tại gan của hội chứng chuyển hóa. Các nghiên cứu của Nhật Bản báo cáo tần suất của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu là 29,7% dân số chung. Các nghiên cứu cũng cho thấy tần suất bệnh tim mạch ở người bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu cao hơn so với người không bị gan nhiễm mỡ không do rượu.
Từ tháng 1/2017 đến tháng 4/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Huỳnh Thị Kim Phượng cùng cộng sự Bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện nghiên cứu tiến cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Mối liên quan giữa bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu với xơ mỡ động mạch cảnh ở người kiểm tra sức khỏe tổng quát”. Đối tượng nghiên cứu là tất cả người kiểm tra sức khỏe tổng quát từ 16 tuổi trở lên tại Khoa chăm sóc Sức khỏe theo yêu cầu Bệnh viện Chợ Rẫy; loại trừ người có tiền sử bệnh gan (viêm gan siêu vi), người tiêu thụ cồn trên 20gam/ngày; người có tiền sử bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa đường, rối loạn lipit máu, tăng axit uric máu.
Đánh giá gan nhiễm mỡ dựa trên siêu âm bụng bằng máy siêu âm. Dấu hiệu chẩn đoán là có tăng phản âm hay tăng độ ECHO của nhu mô gan, giảm âm vùng sâu, sự mờ đi của vòm hoành và các mạch máu trong gan. Siêu âm động mạch cảnh được thực hiện có sự hiện diện của mảng xơ vữa. Tổn thương động mạch cảnh theo hướng dẫn Hội Tăng huyết áp và Hội Tim mạch Châu Âu năm 2013, đo độ dày lớp nội trung mạc tại động mạch cảnh chung 2 bên tại vị trí cách phình cảnh tối thiểu 5mm, đo đoạn dài ít nhất 10mm, lấy giá trị cao hơn của hai bên.
Bình thường khi độ dày lớp nội trung mạc nhỏ hơn 0,9mm, tăng khi từ 0,9-1,5 mm, có mảng xơ vữa khi lớn hơn 1,5mm hoặc độ dày lớp nội trung mạc trên 50% so với độ dày của đoạn thành mạch kế cận, nhô vào lòng mạch hơn 0,5mm. Đánh giá hẹp theo mức độ mảng xơ vữa và đỉnh vận tốc tâm thu.
BS.Phương báo cáo, nghiên cứu có 203 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tự nguyện tham gia; trong đó có 84 trường hợp bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, 119 trường hợp nhóm chứng có gan bình thường. Nam giới chiếm 31%; nữ 69%; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu 43,7% (21-71 tuổi); vòng bụng trung bình 77,77cm (54-106mm); điều đó cho thấy đa số đối tượng nghiên cứu có tình trạng xơ vữa động mạch. Chỉ số khối cơ thể trung bình ở nhóm bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu là 24,32 cao hơn 2,23 so với MBI trung bình ở nhóm chứng gan bình thường (p < 0,001). Nhóm bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có vòng bụng trung bình là 81,7cm cao hơn 6,77 cm so với vòng bụng trung bình của nhóm chứng (p < 0,001).
Về mặt mô học của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, mô gan nhiễm mỡ không do rượu gồm bọng mỡ lớn (macrovesicular steatosis) và tình trạng viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (nonalcoholic stestohepatosis) mà có thể đến xơ gan và được xem là yếu tố tiên đoán của xơ gan không rõ nguồn gốc (cryprogenic cirhhosis).
BS. Phương chia sẻ một số kết quả nghiên cứu nhận xét những người có viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (nonalcoholic stestohepatosis) có tần suất bệnh tim mạch và tử vong do bệnh tim mạch cao hơn những người có bệnh gan không nhiễm mỡ không do rượu (alcoholic fatty liver) và tiên lượng bệnh xấu hơn. Mức độ nặng về mặt mô học của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu như nhiễm mỡ, viêm hoại tử và xơ hóa tương quan thuận có ý nghĩa với mức độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh. Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu là yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa và xơ vữa động mạch tiến triển, bệnh là đặc tính của hội chứng chuyển hóa và sự phát hiện dấu hiệu của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu trên siêu âm tạng được cảnh báo cho yếu tố nguy cơ tim mạch.
Nghiên cứu của tác giả Minato Ito nhấn mạnh bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu liên quan mạnh tới xơ vữa động mạch hơn là béo bụng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh trung bình là 1,062 mm dày hơn so với nhóm chứng, độ dày là 0,913mm (p = 0,05).
BS. Phương cũng cho biết, hạn chế nghiên cứu là không xác định qua xét nghiệm sinh thiết gan là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu. Đối tượng nghiên cứu là người khám sức khỏe tổng quát do vậy cũng ghi nhận những kết quả chưa phản ánh của dân số chung của cộng đồng.
Hồng Sơn