
Ở Việt Nam, bệnh sán lá gan lớn lưu hành trên 52/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Thời gian gần đây bệnh sán lá gan lớn đang trở thành vấn đề y tế công cộng quan trọng và bệnh có xu hướng gia tăng trở lại.
Một nghiên cứu của tác giả Đỗ Xuân Tiến – Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa “Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh sán lá gan lớn” đã được báo cáo tại hội nghị khoa học bệnh truyền nhiễm Việt Nam vào tháng 9/2015.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8/2011 đến tháng 7/2013, trên 95 bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm sán lá gan lớn tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Xét nghiệm ELISA để chẩn đoán sán lá gan lớn sử dụng kháng nguyên F.gigantica. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nam giới chiếm 53,7%; tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 49 tuổi. Có 27 bệnh nhân có tiền sử ăn các rau thủy sinh không nấu chín như rau ngổ, rau muống nước, rau cải xoong. Đối với các triệu chứng thường gặp kết quả nghiên cứu cho thấy mệt mỏi chán ăn chiếm tỷ lệ cao nhất gần 92%; đau tức hạ sườn phải chiếm 85,3%; đau thượng vị và đầy bụng chậm tiêu chiếm tỷ lệ gần 77%. Triệu chứng sốt chỉ có 32,6% người bệnh được ghi nhận. Xét nghiệm cận lâm sàng đáng chú ý là tăng bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi chiếm tỷ lệ gần 75%. Theo tác giả nghiên cứu đối với chẩn đoán hình ảnh bằng siêu âm; ở giai đoạn cấp tính sán lá gan lớn thường gây tổn thương trong nhu mô. Còn ở giai đoạn mạn tính thường gây tổn thương đường mật. Tổn thương giai đoạn cấp gồm có hình ảnh nhu mô không đồng nhất (87,8%); các khoảng trống như khoang giống đường hầm và các ổ tổn thương sát bao gan. Còn đối với giai đoạn mạn hình ảnh siêu âm là đa ổ nhỏ li ti cả trong nhu mô và đường mật có kèm giãn, dày đường mật hoặc thành của túi mật.
Qua điều trị bằng thuốc đặc hiệu cho bệnh sán lá gan lớn là Triclabendazole 250mg, liều 10mg/kg cân nặng, uống liều duy nhất, tác giả nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi trở về bình thường trong vòng một tháng sau điều trị là 84%; sau 3 tháng điều trị tỷ lệ này là 97,9%. Tuy nhiên hình ảnh tổn thương trên siêu âm và CT scanner biến đổi và mất chậm, sau 3 tháng chỉ có 30,5% số trường hợp mất hình ảnh tổn thương trên siêu âm và CT.
Chúng ta biết rằng, hiện trên thế giới ước tính có khoảng 17 triệu người bị nhiễm sán lá gan lớn; 91 triệu người có nguy cơ bị nhiễm sán lá gan lớn. Một nghiên cứu của Viện Sốt rét ký sinh trùng Côn trùng Trung ương tại tỉnh Bình Định, nơi lưu hành bệnh sán lá gan lớn ở mức cao cho thấy 54,9% các loại động vật đào thải trứng sán lá gan lớn, 72,2% dương tính huyết thanh với sán lá gan lớn.
Chu kỳ của sán lá gan lớn là trứng trưởng thành nở trong nước và giải phóng ấu trùng lông, ấu trùng lông xâm nhập vào ốc, phát triển thêm thành ấu trùng đuôi, ấu trùng đuôi rời ốc và bám vào cây thủy sinh (cải xoong, rau muống nước …) rồi đóng kén sán kết vỏ cứng. Sau khi động vật (cừu, trâu, bò) ăn cỏ và rau có ấu trùng, hoặc uống nước có chứa kén sán kết vỏ cứng, ấu trùng thoát kén đi qua thành ống tiêu hóa vào khoang phúc mạc, vào gan thành sán trưởng thành và đẻ trứng trong ống mật, sau đó trứng được bài tiết trong phân. Toàn bộ chu kỳ kéo dài 3 – 4 tháng. Bệnh lây truyền cho người do vô tình nuốt phải ấu trùng đuôi qua nước bị ô nhiễm, các loại rau thủy sinh hoặc các rau bị ô nhiễm do ăn sống, ăn tái.
Bệnh không lây truyền từ người sang người. Sán lá gan loại Fasciola hepatica dài 20 – 30mm; loại Fasciola gigantica có thể dài đến 75mm.
Trần Hưng