Về sa sút trí tuệ, theo TS.BS Nguyễn Thanh Bình, Bệnh viện Lão khoa Trung ương, hoạt động tâm trí của con người là một chức năng rất phức tạp với nhiều hợp phần như cảm giác, tri giác, chú ý, trí nhớ, trí năng, tư duy … Cơ sở vật chất là não bộ với mối liên quan hữu cơ đến các chất dẫn truyền thần kinh thông qua sự cung ứng máu của tuần hoàn não. Hoạt động tâm trí tuân theo quy luật tiến hóa và thoái hóa của cơ thể và sự lão hóa. Sự lão hóa của hệ thần kinh sẽ dẫn đến những biến đổi các chức năng thần kinh và tâm trí.
Vấn đề có tính thời sự hiện nay là rối loạn nhận thức ở người cao tuổi với trọng tâm là bệnh Alzheimer và các bệnh liên kết. Theo TS Bình, trên lâm sàng khi tiếp cận bệnh nhẹ, cán bộ y tế cần kết hợp hỏi bệnh và nghe trả lời. Chú ý các dấu hiệu báo động, các yếu tố nguy cơ. Hỏi bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.
Khám thần kinh: Chú ý trương lực cơ, các động tác, sự điều phối, các phản xạ, vận động nhãn cầu và thị trường, thính lực. Đánh giá chức năng tâm trí cơ bản: tri giác, chú ý, trí nhớ, cảm xúc, tư duy, ngôn ngữ, hành vi, phán đoán …Khám toàn thể: các cơ quan, hệ thống.
Đối với giảm trí nhớ, đây là triệu chứng bắt buộc phải có. Giai đoạn đầu chủ yếu là giảm trí nhớ ngắn hạn. Bệnh nhân quên các thông tin quan trọng, nhắc cũng không nhớ được. Đánh giá bao gồm: Trí nhớ tức thì (trí nhớ làm việc): trắc nghiệm đọc xuôi và đọc ngược dãy số; Trí nhớ ngắn hạn: trắc nghiệm nhớ danh sách từ, kể lại câu chuyện, nhớ hình vẽ …; Trí nhớ dài hạn: hỏi bệnh nhân những thông tin cá nhân có thể kiểm chứng.
Đối với rối loạn ngôn ngữ, người bệnh khó tìm từ để diễn đạt, nói vòng vo, nói nửa chừng, không theo được các cuộc hội thoại phức tạp, giai đoạn cuối hầu như không nói. Đánh giá sử dụng trắc nghiệm định danh của Boston, trắc nghiệm nói lưu loát từ.
Đối với rối loạn sử dụng động tác, người bệnh không thực hiện được các động tác mặc dù chức năng vận động, như cơ lực và phối hợp động tác, vẫn bình thường. Đánh giá: yêu cầu bệnh nhân làm các động tác thông thường.
Đối với rối loạn chức năng thị giác – định hướng không gian, người bệnh giảm nhận biết hình ảnh (không nhận ra khuôn mặt người quen). Giảm khả năng định hướng không gian (lạc ở những nơi quen thuộc). Đánh giá: trắc nghiệm vẽ đồng hồ, vẽ các hình theo không gian 3 chiều..
Đối với rối loạn chức năng điều hành, người bệnh giảm khả năng lên kế hoạch, dự đoán, liên hệ: trắc nghiệm thùy trán. Tiếp nhận và xử lý nhiều thông tin để đưa ra quyết định (trắc nghiệm nối điểm phần B). Có thể đánh giá chức năng điều hành bằng cách yêu cầu bệnh nhân thực hiện một nhiệm vụ gồm nhiều bước, chẳng hạn như gửi thư (gấp bức thư, cho vào phong bì, ghi địa chỉ trên phong bì, dán tem và dán phong bì).
Giảm khả năng trừu tượng hóa: bệnh nhân không nói được sự giống nhau giữa các đồ vật như ghế và bàn, hoặc dao ăn và dĩa. Không giải nghĩa một cách trừu tượng những câu thành ngữ thông thường. Giảm chức năng điều hành, thường thấy trong sa sút trí tuệ thùy trán-thái dương trước khi xuất hiện suy giảm trí nhớ.
Đối với rối loạn hành vi, người bệnh bao gồm thay đổi nhân cách xuất hiện sớm; Trầm cảm, có các biểu hiện tâm thần và rối loạn giấc ngủ. Cụ thể đối với thay đổi nhân cách xuất hiện sớm, người bệnh thụ động thờ ơ, cách ly xã hội. Mất kiềm chế, hành vi tình dục bất thường hoặc nói năng lung tung. Tự cho mình là trung tâm (tính trẻ con, thiếu sự đại lượng). Kích động rất thường gặp và thường nặng lên khi bệnh tiến triển, kích động về lời nói (25%), kích động về hành động (30%). Các hành vi không kích động như đi lang thang (25-50%).
Rối loạn hành vi qua trầm cảm thường gặp trong bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ do mạch máu. Về biểu hiện tâm thần, người bệnh có hoang tưởng chiếm tỷ lệ 30 – 60% như mất trộm, không chung thủy; đối với ảo giác chiếm tỷ lệ 20 – 40%, thường ảo giác thị giác, bệnh hay gặp trong sa sút trí tuệ thể Lewy.
Về rối loạn giấc ngủ, thường có tỷ lệ hơn 50%. Mất ngủ, rối loạn chu kỳ thức – ngủ. Mất ngủ, đi lang thang và kích động là những lý do chính làm kiệt sức người chăm sóc.
TS Bình lưu ý, đối với cận lâm sàng, bác sĩ cần chỉ định các xét nghiệm thường quy huyết học như công thức máu, tốc độ máu lắng … sinh hóa như máu, nước tiểu, vi sinh y học như phản ứng giang mai, viêm gan, HIV …Chú ý nồng độ vitamin B12, chức năng tuyến giáp, nồng độ một số thuốc trong cơ thể. Ghi điện tim, ghi điện não, siêu âm Doppler, siêu âm xuyên sọ, chụp X-quang quy ước: ngực. Chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, chụp mạch máu não (CLVT, CHT, số hóa xóa nền), chụp CLVT phát điện tử dương (PET), chụp CLVT phát photon đơn (SPECT); xét nghiệm dịch não – tủy. Trắc nghiệm thần kinh – tâm lý: người bệnh cần được thực hiện trắc nghiệm thần kinh tâm lý để sàng lọc và kiểm tra đầy đủ các chức năng nhận thức.
Một nội dung cần lưu ý của bệnh Alzheimer là xác định các dấu ấn sinh học (Biomarkers) trong chẩn đoán bệnh. Các dấu ấn sinh học bao gồm Biomarkers lắng đọng Aβ, nồng độ Aβ trong dịch não tủy (thấp), hình ảnh amyloid PET (cao). Biomarkers tổn thương tế bào thần kinh gồm nồng độ tau protein dịch não tủy (cao). MRI đo thể tích vùng hippocampus, thùy thái dương hoặc toàn bộ não (giảm thể tích). FDG-PET (vùng giảm chuyển hóa).
Đối với xét nghiệm tìm tau protein trong bệnh Alzheimer có Biomarkers lắng đọng Aβ, nồng độ Aβ trong dịch não tủy (thấp), hình ảnh amyloid PET (cao). Biomarkers tổn thương tế bào thần kinh gồm nồng độ tau protein dịch não tủy (cao). MRI đo thể tích vùng hippocampus, thùy thái dương hoặc toàn bộ não (giảm thể tích). FDG-PET (vùng giảm chuyển hóa). Biomarkers lắng đọng Aβ, nồng độ Aβ trong dịch não tủy (thấp), hình ảnh amyloid PET (cao).
Biomarkers tổn thương tế bào thần kinh gồm nồng độ tau protein dịch não tủy (cao). MRI đo thể tích vùng hippocampus, thùy thái dương hoặc toàn bộ não (giảm thể tích). FDG-PET (vùng giảm chuyển hóa).
Huy Hoàng