Theo thống kê của Hội phòng chống Ung thư Việt Nam, ung thư dạ dày là loại ung thư thường gặp, đứng hàng thứ 3 sau ung thư gan, ung thư phổi ở nam giới; hàng thứ 4 đối với phụ nữ.
Ung thư mọc từ các tế bào lót mặt trong dạ dày; xuất hiện như một chỗ loét cứng, ăn xuyên qua thành dạ dày, tràn đến các hạch lymphô và các cơ quan lân cận.
Triệu chứng của ung thư dạ dày giai đoạn đầu mập mờ, có thể là cảm giác ăn không tiêu. Khi ung thư nhiều rồi mới gây ra cơn đau vùng bụng trên, cảm giác khó tiêu dai dẳng và không thèm ăn. Giai đoạn muộn là ói mửa, tiêu phân đen, sút cân mau lẹ.
Theo GS.TS Nguyễn Chấn Hùng - Chủ tịch Hội phòng chống Ung thư Việt Nam, nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori là nguyên nhân quan trọng gây ra ung thư dạ dày. Khoảng 60% ung thư dạ dày loại caranôm liên quan vi khuẩn này. Các yếu tố nguy cơ khác là chế độ ăn mặn, thức ăn cá khô, mắm, rau cà muối mặn làm dưa; khói thuốc lá… phối hợp cùng với H.pylori gây ra ung thư. Một số yếu tố khác là nam giới, lớn tuổi; dinh dưỡng ít rau trái củ tươi; viêm dạ dày mạn tính dạng teo, tiền căn gia đình ung thư dạ dày…
Các nhiên cứu cũng chỉ ra có trên 90% các loét tá tràng kết hợp với nhiễm H.pylori trong lần khám đầu tiên hoặc khi bị tái phát. Việc điều trị H.pylori (HP) giúp cho khỏi bệnh và giảm tỷ lệ tái phát. Việc khẳng định HP dương tính có thể dùng các xét nghiệm không xâm hại (bao gồm các xét nghiệm urea hơi thở, xét nghiệm tìm kháng nguyên trong phân và các xét nghiệm huyết thanh khác) hoặc dùng một kỹ thuật xâm hại là nội soi dạ dày làm sinh thiết và làm tiếp các xét nghiệm urease nhanh, mô học hoặc nuôi cấy.
Xét nghiệm nội soi sinh thiết mô niêm mạc dạ dày, động tác này được coi là xâm hại. Các phương pháp này tốn kém, bất tiện cho người bệnh, không làm được cho người bệnh trẻ con và chỉ làm được ở các trung tâm chuyên khoa. Ngoài ra, vì H. pylori phân bố không đồng đều trong khắp niêm mạc dạ dày, cho dù việc lấy mẫu ít nhất phải lấy ở hai nơi (hang vị và thân vị) nhưng việc khảo sát mô sinh thiết vẫn có thể cho kết quả âm tính sai.
Xét nghiệm không xâm hại là xét nghiệm tìm kháng nguyên trong phân và xét nghiệm urea hơi thở dùng để xác định là có nhiễm khuẩn H. pylori hoạt động.
Theo hướng dẫn của Hội tiêu hóa Mỹ (2005) xét nghiệm urea hơi thở hay xét nghiệm tìm kháng nguyên trong phân là những xét nghiệm không xâm hại được lựa chọn để phát hiện nhiễm khuẩn mới ở các người bệnh trẻ không có các triệu chứng báo động. Các người bệnh tuổi trên 55 và các người bệnh trẻ có các triệu chứng báo động (như sụt cân, khó nuốt tăng dần, nôn tái diễn, chảy máu đường tiêu hóa, hay gia đình có người bị ung thư đường tiêu hóa trên) thì cần được nội soi sinh thiết. Hai xét nghiệm urea hơi thở và tìm kháng nguyên trong phân cũng được lựa chọn cho các trường hợp cần thử hiệu quả sau điều trị.
Về xét nghiệm huyết thanh có ưu điểm là không xâm hại, ít tốn kém, không bị ảnh hưởng bởi sai sót trong việc lấy mẫu, cho kết quả nhanh và dễ thực hiện. Các xét nghiệm huyết thanh ngày nay được sử dụng rộng rãi phụ thuộc vào các kháng nguyên chuẩn bị và các giống H. pylori khác nhau giữa các địa phương nên cần được sự công nhận của y tế địa phương.
Xét nghiệm miễn dịch sắc ký (immunochromatographic test – ICT) bao gồm việc xác định có hay không tình trạng “đang nhiễm H. pylori” (current infection marker – CIM). Xét nghiệm ICT được tiến hành với bộ kit ASSURE® H. pylori Rapid Test (Genelabs Diagnostics, Singapore) theo chỉ dẫn của nhà sản xuất, giúp phát hiện nhanh các kháng thể và đồng thời cho biết tình trạng “đang nhiễm” H. pylori ra sao nhờ dấu ấn CIM đã được tích hợp trong bộ kit xét nghiệm này. CIM là một protein kháng nguyên tổng hợp bằng kỹ thuật tái tổ hợp DNA, tương đồng với protein do H. pylori tiết ra được lưu trữ. Sự có mặt của kháng thể IgG kháng-kháng nguyên CIM có giá trị dự đoán cao một nhiễm H. pylori hoạt động, điều này rất có ích cho chẩn đoán nhiễm H. pylori ở những nơi không có điều kiện làm nội soi. Việc phát hiện dấu ấn CIM được xem là có ý nghĩa khoa học thiết thực hỗ trợ cho việc theo dõi điều trị. Đây là một phương pháp mới phát hiện dấu ấn đặc trưng khi người bệnh đang bị nhiễm vi khuẩn H. pylori: kháng thể kháng-kháng nguyên CIM chỉ xuất hiện ở giai đoạn này. Xét nghiệm CIM được kỳ vọng đem lại lợi ích thiết thực cho việc chẩn đoán phân biệt và theo dõi điều trị người bệnh. Phương pháp có độ nhạy 96%, độ đặc hiệu 92%.
Theo GS.TS Nguyễn Chấn Hùng, để phòng tránh ung thư dạ dày, ngoài việc ăn lành, tránh chế độ ăn muối mặn, tránh xa khói thuốc lá thì việc xét nghiệm H.pylori để có biện pháp xử trí thích hợp là một phương pháp cần được quan tâm thực hiện.
Nguyên Khải