Tổ chức Y tế thế giới thường nêu thực trạng bệnh không lây nhiễm ở các quốc gia bằng các chỉ số như số lượng tử vong, tỷ lệ phần trăm phân bố cho các nhóm nguyên nhân so với tổng số, tỷ lệ phần trăm số người mất trước 70 tuổi, tỷ suất tử vong trên 100.000 chuẩn hóa tuổi (Age - Stanclardized rate - ASR) và số năm sống tiềm năng mất đi do mắc bệnh và tử vong sớm chuẩn hóa do bệnh không lây nhiễm (Disability adjusted life year, DALY).
Theo các chuyên gia y tế công cộng, bệnh không lây nhiễm và ung thư có số mắc và tử vong tăng rất nhanh theo tuổi. Cách tính tỷ suất tử vong chuẩn hóa tuổi bằng cách chọn 9 nhóm tuổi từ 0-9, 10-19, 20-29…đến 80 tuổi. Trình bày số tử vong theo 9 nhóm tuổi này, cột số người của quần thể tham gia nghiên cứu, thường là số người - năm; nếu có số liệu thống kê được trên 12 tháng. Trình bày cấu trúc dân số thế giới cho tổng 100.000, phân bố theo 9 nhóm tuổi, tính tỷ suất/100.000 cho từng nhóm tuổi và tổng số, được tỷ suất tử vong thô và tỷ lệ cho từng nhóm tuổi. Tính số tử vong cho mỗi nhóm tuổi của 9 nhóm này là tỷ suất chuẩn hóa tuổi/100.000 người - năm.
Đối với chỉ số DALY, tham khảo 2 chỉ số là tuổi thọ trung bình tính từ năm sinh cho mỗi cá nhân hay nhóm người có cùng năm sinh và chỉ số mất sức khỏe do mắc bệnh. Ví dụ một bệnh nhân sinh năm 1955, ở quần thể có tuổi thọ những người cùng năm sinh là 80 tuổi, sống đến năm 2035. Người này mắc đái tháo đường, sức khỏe mất đi 20% do bệnh này. Năm 2005, bệnh nhân chết, sớm 30 năm so với tuổi thọ trung bình (kỳ vọng sống). Số năm sống mất đi do mắc đái tháo đường là 0,2 x 5 bằng 1 năm (YLD). Tổng số năm kỳ vọng sống mất đi do mắc bệnh và tử vong sớm là 31 năm.
Đối với thời gian sống chung với bệnh tật, mỗi nước có số liệu riêng. Ở các nước giàu phát hiện sớm bệnh là phổ biến, vì vậy thời gian sống chung với bệnh tật dài hơn so với những nước nghèo; hệ thống khám sàng lọc, phát hiện được bệnh từ giai đoạn sớm. Số năm sống tiềm năng mất đi do mắc bệnh đa dạng, có 3 khả năng tính đó là tính cho số người hiện mắc bệnh, tính cho số người mới mắc bệnh và tính cho số người tử vong.
Năm 2010, báo cáo toàn cầu về bệnh không lây nhiễm được Tổ chức Y tế thế giới công bố.
Báo cáo nêu lên, năm 2018 trong số 57 triệu người tử vong có 36 triệu người (chiếm 63%) là bệnh không lây nhiễm bao gồm các bệnh tim mạch, bệnh ung thư, đái tháo đường, các bệnh hô hấp mạn tính. Trong tổng số bệnh không lây nhiễm, 80% số tử vong thuộc về nước phát triển thấp và trung bình, các bệnh này là nguyên nhân tử vong ở người dưới 70 tuổi, ảnh hưởng đến chiến lược phòng chống đói nghèo trên thế giới.
Đến năm 2013, bệnh không lây nhiễm tăng lên 82% ở nước nghèo, 70% ở nước phát triển trung bình. Bệnh không lây nhiễm có thể phòng tránh hiệu quả bằng kiểm soát 4 nhóm nguyên nhân, nguy cơ là hút thuốc lá, uống rượu bia, ít vận động thể lực và dinh dưỡng không an toàn. Thuốc lá là nguyên nhân trực tiếp 71% ung thư phổi, 42% bệnh hô hấp mạn tính và 10% tổng số bệnh tim mạch. Ít vận động thể lực là nguyên nhân tử vong của 3,2 triệu người làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư và trầm cảm. Rượu bia, dinh dưỡng không an toàn làm tăng huyết áp, thừa cân béo phì, tăng mỡ máu.
Năm 1855, thế giới bắt đầu áp dụng thống kê y học phân loại nguyên nhân tử vong, sau này phân loại theo bảng ICD. Mục đích phân loại bệnh tật quốc tế giúp khả năng ghi nhận hệ thống, phân tích, phiên giải nguyên nhân, so sánh số liệu tử vong và mắc bệnh giữa các nước; so sánh dọc theo thời gian dài để đánh giá diễn tiến của bệnh, hiệu quả của can thiệp ở cấp độ quốc gia và quốc tế. Hiện nay bệnh được mã hóa theo ICD-10 (1990) với 2.034 nhóm bệnh.
Ở Việt Nam, từ năm 2009 đến nay, Bộ Y tế đã chỉ đạo các hoạt động nghiên cứu về tử vong và các nguyên nhân gây bệnh không lây nhiễm với sự giúp đỡ của Tổ chức Y tế thế giới. Năm 2012, WHO công bố nước ta có 379.000 người mất do bệnh không lây nhiễm, trong đó nam là 203.300 người và nữ là 175.700 người. Tỷ lệ tử vong trước 70 tuổi là 54,3% đối với nam giới và 30% ở nữ giới. Tỷ suất tử vong chuẩn hóa tuổi trên 100.000 người cho tổng số bệnh không lây nhiễm, ung thư, các bệnh hô hấp mạn tính, các bệnh tim mạch, đái tháo đường lần lượt là 604,3; 163,4; 56,7; 262,3 và 17,2 đối với nam giới và 314,9; 74,2; 27,7; 145,0 và 15,4 đối với nữ giới.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, các nước cần thực hiện phòng chống bệnh không lây nhiễm theo 4 nguyên tắc hoạt động căn bản; trước hết là tiếp cận toàn diện, kiểm soát việc sản xuất, phân phối, lưu hành và hút thuốc, sản xuất và lưu hành rượu bia, sản xuất và cung cấp thực phẩm an toàn, tăng hoạt động thể lực, môi trường sống và các vấn đề được xem là vấn đề xã hội liên quan nhiều ban, ngành, đoàn thể; sự tiếp cận toàn diện là nguyên tắc rất quan trọng phòng chống các bệnh không lây nhiễm. Nguyên tắc thứ hai là lồng ghép các hoạt động kiểm soát 4 nhóm nguy cơ gây bệnh như hút thuốc, lạm dụng rượu bia, sản xuất và cung cấp thực phẩm an toàn, tăng hoạt động thể lực, môi trường sống; lồng ghép chăm sóc sức khỏe ban đầu; công tác quản lý, vận hành hệ thống phòng chống bệnh không lây nhiễm trên hệ thống y tế cơ sở. Nguyên tắc thứ ba là phối hợp liên ngành, các cấp lãnh đạo, chỉ đạo đường lối, chính quyền tham gia điều hành, phân phối nguồn lực hoạt động phòng chống bệnh không lây nhiễm; các Sở, ban, ngành phối hợp thực hiện nâng cao sức khỏe cho cộng đồng. Nguyên tắc thứ tư là tăng cường y tế dự phòng và y tế cơ sở, bệnh không lây nhiễm được coi là bệnh xã hội, được khám cấp thuốc định kỳ tại trạm y tế hàng tháng. Các tỉnh, thành phố cần có số liệu cơ bản về thực trạng tử vong do bệnh không lây nhiễm từ đó lập kế hoạch căn cứ vào những bằng chứng thực tế đưa ra những giải pháp cụ thể để can thiệp.
Theo bảng phân loại quốc tế ICD-10, các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong do bệnh không lây nhiễm bao gồm:
- Khối u ác tính của môi, khoang miệng và hầu họng.
- Các khối u ác tính thực quản, dạ dày và ruột.
- Các khối u ở đại tràng, trực tràng và hậu môn.
- Khối u ở gan và đường mật.
- Khối u ở khí quản, phế quản và phổi
- Khối u vú
- Khối u cổ tử cung và các bộ phận khác của tử cung.
- Ung thư hệ lympho, hệ tạo máu và các mô liên quan.
- Bệnh đái tháo đường.
- Bệnh tăng huyết áp.
- Bệnh tim do phổi và bệnh tuần hoàn phổi.
- Các bệnh nhồi máu cơ tim.
- Bệnh tai biến mạch máu não.
- Bệnh động mạch, tiểu động mạch và mao mạch.
- Bệnh hô hấp dưới mạn tính.
- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( COPD)./.
Nguyên Khải