Ngày 16/7/2020, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 3087/QĐ-BYT về tài liệu chuyên môn Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tiền đái tháo đường.
Tiền đái tháo đường là giai đoạn trung gian giữa người bình thường và đái tháo đường tuýp 2. Có khoảng 5-10% người tiền đái tháo đường sẽ trở thành đái tháo đường hàng năm; trong đó 70% người tiền đái tháo đường sẽ thành đái tháo đường thật sự. Tiền đái tháo đường là yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì, rối loạn lipit máu, tăng huyết áp, ít hoạt động thể lực. Trong bảng phân loại thống kê quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe có liên quan, phiên bản lần thứ 10 (ICD10), tiền đái tháo đường có mã bệnh là R73.0.
Ở Việt Nam, theo Bộ Y tế tỷ lệ người bị rối loạn dung nạp đường máu chiếm 8,6% tương đương 5,3 triệu người, gấp 1,4 lần so với bệnh nhân đái tháo đường.
Tiêu chí chẩn đoán tiền đái tháo đường khi có một trong các rối loạn: glucose huyết tương khi đói 5,6-6,9 mmol/L (100-125 mg/dL); glucose huyết tương sau 02 giờ khi làm nghiệm pháp dung nạp gluco 75g: 7,8-11,0 mmol/L (140-199 mg/dL) hoặc HbA1C từ 5,7-6,4%.
Khuyến cáo làm xét nghiệm để tầm soát, phát hiện đái tháo đường ở người lớn không có triệu chứng, biểu hiện lâm sàng cụ thể là người trưởng thành ở bất kỳ tuổi nào có thừa cân hoặc béo phì (BMI≥23kg/m2) và có kèm một trong các yếu tố nguy cơ: có người thân đời thứ nhất (bố, mẹ, anh, chị, em ruột, con đẻ) bị đái tháo đường; tiền sử bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch; tăng huyết áp hoặc đang điều trị tăng huyết áp, HDL<35mg/dL (0,9mmol/l) và/hoặc trilyxerite>250mg/dL (2,8 mmol/l); phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang; người ít hoạt động thể lực; các tình trạng lâm sàng khác liên quan với kháng Insuline (như béo phì nặng, dấu gai đen - acanthosis nigricans).
Khuyến cáo đối với phụ nữ được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ cần theo dõi lâu dài, xét nghiệm ít nhất mỗi 3 năm; Khuyến cáo tất cả người từ 45 tuổi trở lên nên làm xét nghiệm tầm soát. Nếu các kết quả bình thường, xét nghiệm sẽ được làm lại trong 1-3 năm hoặc ngắn hơn tùy theo kết quả ban đầu và các yếu tố nguy cơ.
Đối với điều trị tiền đái tháo đường, mục đích là đưa đường máu trở về bình thường; ngăn chặn hoặc làm chặn sự phát triển thành đái tháo đường; ngăn chặn và làm giảm các biến chứng do tăng đường máu. Việc điều trị giúp làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch thông qua phát hiện và điều trị các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm.
Mục tiêu điều trị là kết quả HbA1C nhỏ hơn 5,7%. Người thừa cân, béo phì giảm được ít nhất 3-7% cân nặng và duy trì ở mức đó. Vòng eo nhỏ hơn 80cm đối với nữ giới; nhỏ hơn 90 cm đối với nam giới. Đạt được hoạt động thể lực cường độ trung bình tối thiểu 30 phút/ngày, ít nhất 5 ngày mỗi tuần. Kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ tim mạch nếu có như tăng huyết áp, rối loạn lipít máu và bỏ thuốc lá.
Trong can thiệp dinh dưỡng cân bằng và hoạt động thể lực thường xuyên là yếu tố cốt lõi nhằm ngăn ngừa diễn tiến đến đái tháo đường đối với người thừa cân, béo phì. Chế độ giảm cân thường khó duy trì lâu dài sau các can thiệp tích cực ban đầu, người bệnh cần được tư vấn dùng thêm thuốc, hỗ trợ tâm lý. Cần áp dụng chế độ ăn giảm năng lượng, giảm chất béo, giảm cân dần dần. Cần lựa chọn những thực phẩm có chỉ số đường thấp, nguyên hạt, giàu chất xơ, rau, hoa quả, không ăn thực phẩm chế biến công nghiệp. Một số thực phẩm giảm nguy cơ tiền đái tháo đường là các loại hạt, dâu, sữa chua, cà phê, trà…. Thực phẩm cần hạn chế là thịt đỏ, đồ ngọt, nhiều đường, thức ăn có mỡ động vật. Người thừa cân, béo phì cần lựa chọn thực phẩm như hướng dẫn.
Đối với hoạt động thể lực; cần tập luyện tiêu hao khoảng 700Kcal/tuần, tức là cần tập luyện cường độ trung bình 150 phút/tuần như đi bộ nhanh; giảm thời gian ngồi tĩnh tại; kết hợp tập luyện aerobic, đi bộ, thể dục dụng cụ..
Trong trường hợp sau 3-4 tháng áp dụng chế độ ăn và luyện tập không kiểm soát được HbA1C<5,7%; qua theo dõi ghi nhận glucose máu tăng dần; chỉ định điều trị thuốc Metformin. Thuốc cũng được dùng nếu người bệnh có BMI≥25kg/m2; dưới 60 tuổi; phụ nữ có tiền sử đái tháo đường thai kỳ; có cả rối loạn glucose máu lúc đói và rối loạn dung nạp glucose.
Các yếu tố nguy cơ khác cần quan tâm là HbA1C>6%; bệnh nhân tăng huyết áp, xét nghiệm HDL thấp (0,9 mmol); Triglyxerit cao (>2,52 mmol/l); tiền sử gia đình đời thứ nhất đái tháo đường.
Lưu ý kiểm soát tăng huyết áp, rối loạn lipít máu; đối với hút thuốc lá làm tăng nguy cơ đái tháo đường và biến cố tim mạch. Trong quá trình điều trị người bệnh cần khám mỗi tháng/lần; xét nghiệm đường máu lúc đói; ứng dụng công nghệ để hỗ trợ theo dõi nhật ký ăn uống, tập luyện để điều chỉnh phù hợp./.
Hồng Hoa