[Đăng ngày: 21/07/2020]

Viêm tai giữa mạn tính được định nghĩa là tình trạng viêm ở tai giữa kéo dài trên 3 tháng. Có hai loại viêm tai giữa mạn tính thường gặp là viêm tai giữa mạn tính mủ nhày và viêm tai giữa mủ mạn tính.

Về phương diện tổn thương giải phẫu bệnh lý: viêm tai giữa mạn tính mủ nhày là tình trạng viêm niêm mạc của các hòm nhĩ, sáo đạo, sào bào mà không có tổn thương xương. Viêm tai giữa mủ mạn tính vừa có tổn thương niêm mạc vừa có tổn thương xương và thường đi đôi với viêm xương chũm mạn tính.

Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, thường gặp nhất là do nhiễm khuẩn. Nếu không được điều trị tốt, bệnh có thể để lại di chứng thủng màng nhĩ gây giảm chức năng nghe, ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp, học tập, lao động… và cũng có thể là đường vào của viêm nhiễm gây viêm tai giữa tái phát.

Để khắc phục hậu quả nêu trên của viêm tai giữa mạn tính, phẫu thuật vá nhĩ đã được thực hiện ngay từ thập kỷ 50 của thế kỷ XX. Về sau với sự ra đời của kính hiển vi phẫu thuật, vá nhĩ đã được thực hiện rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Hiện nay phẫu thuật chỉnh hình tai giữa trong đó có vá nhĩ đơn thuần hoặc phối hợp thay thế, chỉnh hình xương con đã được thực hiện thường quy trên thế giới cũng như ở Việt Nam.

Vừa qua, tác giả nghiên cứu Nguyễn Anh Quỳnh cùng công sự Bệnh viện Đa khoa Bắc Ninh thực hiện nghiên cứu mô tả từng ca có can thiệp báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật vá nhĩ đơn thuần tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Ninh”.

Đối tượng nghiên cứu là 37 bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính được điều trị phẫu thuật vá màng nhĩ đơn thuần tại Khoa Tai Mũi Họng - Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Ninh. Trong đó có 14 bệnh nhân bị viêm 02 tai được mổ 01 tai (tai nghe kém hơn) và 23 bệnh nhân bị viêm 01 tai. Thời gian nghiên cứu: 12 tháng (từ 6/2018-6/2019).

Về phương pháp nghiên cứu, các chỉ số liên quan đến bệnh viêm tai giữa (trước phẫu thuật). Tiền sử chảy mũ tai; tính chất chảy mủ tai: từng đợt hay liên tục, chảy mũ loãng, nhày hay đặc. Chảy 01 bên tai (tai phải, tai trái) hay 02 bên. Tình trạng hiện tại của tai: đau tai, ù tai, nghe kém, chảy mủ tai, chóng mặt. Đặc điểm của lỗ thủng màng nhĩ: Vị trí lỗ thủng: ở trung tâm hoặc 1/4 trước trên, 1/4 trước dưới, 1/4 sau trên, 1/4 sau dưới màng căng. Kích thước đo bằng mm. Các chỉ số liên quan đến thính lực trước phẫu thuật: Dự trữ cốt đạo (khoảng Rinne): là hiệu số của trung bình cộng của khí đạo và cốt đạo trên thính lực đồ ở 4 tần 500Hz, 1000Hz, 2000Hz, 4000Hz trước mổ để làm cơ sở cho chỉ định phẫu thuật phục hồi chức năng.

PTA là yếu tố tin cậy để đánh giá sự thiếu hụt sức nghe của người bệnh. Mức PTA dược xác định là ≤ 30 dB, đây là mức PTA lớn nhất có thể được coi là bình thường có nghĩa là người bệnh có thể hòa đồng hoàn toàn với xã hội mà không cần bất cứ một biện pháp trợ thính nào.

Tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích, đặc điểm đối tượng nghiên cứu là nhóm tuổi trên 45 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (45,9%), nhóm tuổi ≤ 30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (13,5%). Tỷ lệ nữ và nam trong nghiên cứu lần lượt là 40,5% và 59,5%. Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Đối với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng: Trước mổ ngưỡng nghe PTA > 30 dB gặp nhiều nhất (62,2%), PTA ≤ 30 dB gặp ít hơn (13,5%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Ngưỡng nghe PTA ≤ 30 dB được coi là bình thường có nghĩa là người bệnh có thể hòa đồng hoàn toàn với xã hội mà không cần bất cứ một biện pháp trợ thính nào. Khoảng Rinne trung bình  là 23,5 ± 5,8 dB phù hợp để chỉ định phẩu thuật vá nhĩ. Trường hợp có khoảng Rinne lớn nhất là 36,25 dB, thấp nhất là 11,25 dB. Rinne thính lực được coi là số dB tối đa có thể thu hồi lại được sau phẫu thuật phục hồi chức năng. Đối với tình trạng màng nhĩ sau phẫu thuật 3 tháng: Trong nghiên cứu tỷ lệ bệnh nhân liền kín màng nhỉ là 83,8%, tỷ lệ màng nhĩ hở là 16,2%.

Đối với kết quả phẫu thuật về mặt giải phẩu kết quả tốt chiếm tỷ lệ cao nhất (82,36%); khá 10,8%; kém 5,4%. Tỷ lệ thành công về mặt giải phẩu là 94,6%. Đối với kết quả bình phục về chức năng: Về ngưỡng nghe sau mổ 3 tháng: Sau mổ tỷ lệ bệnh nhân có ngưỡng nghe PTA ≤ 30 dB là 59,5% tăng so với trước mổ là 13,5%, điều này có ý nghĩa 46% bệnh nhân sau mổ có thể hòa nhập với cộng đồng. PTA trung bình sau mổ là 32,2 ± 9,7 dB giảm hơn có ý nghĩa thống kê so với cường độ giảm sức nghe trung bình trước mổ là 40,4 ± 8,3 dB (p<0,01). Mức độ nghe trung bình sau mổ cải thiện hơn 8,2 dB so với mức độ nghe trung bình trước mổ.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, sức nghe trung bình tăng sau mổ 8,2 dB thấp hơn so với các tác giả khác. Trong các nghiên cứu của các tác giả mức tăng sức nghe sau mổ  thấp nhất là 10 dB, cao nhất là 30 dB đây là khoảng tăng sức nghe lý tưởng đã được khẳng định qua thực tế. Về khoảng Rinne sau mổ 3 tháng: Khoảng Rinne trung bình sau mổ là 15,2 ± 4,3 dB. Ca có khoảng Rinne sau mổ cao nhất là 26,25 dB, có kết quả giải phẫu kém; ca có khoảng Rinne thấp nhất sau mổ là 6,25 dB, có kết quả giải phẫu tốt. Khoảng Rinne trước mổ trung bình là 23,5 ± 5,8 dB. Như vậy hiệu quả Rinne trung bình của trước và sau mổ là 8,3 dB. Sự khác biệt giữa khoảng Rinne trung bình trước mổ và sau mổ có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Tác giả nghiên cứu có kết luận, tỷ lệ liền kín màng nhĩ là 83,8%, tỷ lệ màng nhĩ hở là 16,2%. Ngưỡng nghe PTA trung bình sau mổ là 32,2 ± 9,7 dB là giảm hơn, có ý nghĩa thống kê so với sức nghe trung bình trước mổ  là 40,4 ± 8,3 dB. Mức độ nghe trung bình sau mổ cải thiện hơn 8,2 dB so với mức độ nghe trung bình trước mổ. Hiệu quả Rinne trung bình của trước và sau mổ là 8,3 dB./.

Hồng Hoa

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 328

Số lượt truy cập: 9285782

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang