[Đăng ngày: 15/10/2017]
Sâu răng là bệnh lý diễn tiến mạn tính, có thể hồi phục với bệnh căn có nhiều yếu tố. Y học ngày nay có nhiều tiến bộ về bệnh răng miệng, sâu răng vẫn là vấn đề y tế toàn cầu, ảnh hưởng tất cả mọi người, ở mọi lứa tuổi. Đối với người bệnh bệnh thận mạn có nhiều yếu tố nguy cơ gây sâu răng do việc vệ sinh răng miệng kém và chế độ ăn giàu bột đường (giúp giảm tải cho thận).

Thêm vào đó, người bệnh thận mạn giảm lưu lượng nước bọt, thiểu sản men răng, sử dụng thuốc kéo dài, do vậy tỷ lệ sâu răng cao đối với bệnh nhân bệnh thận mạn. Thực tế cho thấy, việc chăm sóc răng miệng đối với những bệnh nhân bệnh thận mạn chưa được quan tâm đúng mức.

Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Anh Vũ Thụy, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh thực hiện nghiên cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Tình trạng răng trên bệnh nhân bệnh thận mạn”. Đề tài được thực hiện tại khoa Nội tiết và khoa lọc máu, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, đối tượng nghiên cứu là 220 bệnh nhân tuổi từ 18 trở lên đồng ý tham gia nghiên cứu. Trong đó có 111 bệnh nhân được chẩn đoán và phân loại bệnh thận mạn theo tiêu chuẩn KDIGO (2012) với độ thanh lọc Creatinin < 60ml/phút/1,73m2 da; 109 bệnh nhân không bệnh thận mạn với độ thanh lọc Creatinin > 90ml/phút/1,73m2 da. Loại trừ nghiên cứu đối với bệnh nhân đã ghép thận, phụ nữ mang thai, người mắc bệnh nội khoa nặng, xạ trị ung thư vùng đầu cổ.

Tác giả nghiên cứu cho biết, về khám tình trạng răng, một răng được ghi nhận sâu răng khi có ít nhất 1 lỗ sâu trên bất kỳ mặt nào của răng. Răng mất là những răng đã bị nhổ bỏ do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tổ chức Y tế Thế giới năm 2013 xác định răng cối lớn thứ 3 không tính trong chỉ số mất răng; do vậy trong nghiên cứu, tác giả khám, tư vấn tình trạng răng cối lớn thứ 3 nhưng không tính vào số răng sâu, răng mất hay răng trám và tổng số răng; trong nghiên cứu có 2/3 đối tượng nghiên cứu không có răng cối lớn thứ 3. Đối với răng trám là những răng sâu đã được điều trị và được trám phục hồi lại hình dáng, hiện tại không có biểu hiện sâu tái phát. Nếu một răng có cả một lỗ sâu và 1 miếng trám thì chỉ ghi nhận là răng sâu.

BS Vũ Thụy phân tích báo cáo, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 49,8; có 98 nam (44,5%); 122 nữ (55,5%); tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn thấp chiếm 43%. Tác giả cho rằng trình độ học vấn thấp, kèm tình trạng bệnh mạn tính, điều kiện kinh tế khó khăn nên việc chăm sóc sức khỏe răng miệng có ảnh hưởng không nhỏ. Chỉ có khoảng 30% đối tượng nghiên cứu thỉnh thoảng có đi khám răng; 85% đối tượng nghiên cứu chỉ chải răng 1 lần trong ngày hoặc không chải răng mà chỉ súc miệng vào mỗi sáng. Nghiên cứu ghi nhận số răng trám của đối tượng nghiên cứu thấp, số răng mất chiếm phần lớn chỉ số phản ánh tình trạng sâu răng (SMT) cả ở nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn và nhóm bệnh nhân không bệnh thận mạn.

BS Thụy cho biết, đối với tình trạng bệnh lý toàn thân khác ngoài bệnh thận mạn mà bệnh nhân mắc phải, tác giả ghi nhận bệnh nhân mắc nhiều loại bệnh lý kèm nhất là đái tháo đường và tăng huyết áp. Trong 111 bệnh nhân bệnh thận mạn có 56,8% mắc đồng thời một hoặc cả hai bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp. Đối với nhóm chứng 109 bệnh nhân, có 55% bệnh nhân cũng mắc đái tháo đường hoặc tăng huyết áp.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trung bình số răng sâu là 1,7; răng mất là 3,18; răng trám là 0,53 và chỉ số phản ánh tình trạng sâu răng là 5,38 răng. Tác giả báo cáo tác giả Tadakamadla năm 2014, có giải thích số răng sâu, răng mất và chỉ số SMT ở nhóm bệnh thận mạn ít hơn so với nhóm chứng là do tác dụng ức chế vi khuẩn của urê trong nước bọt, cũng như quá trình giải phóng NH3+ và CO2 của urê giúp pH nước bọt được nâng lên trên mức gây khử khoáng men răng. Về khảo sát từng giai đoạn bệnh thận mạn, không có sự khác biệt về tình trạng sâu răng giữa các giai đoạn (p> 0,05); có thể do kết quả sâu răng là sự phản ánh tình trạng sâu răng suốt đời, không ảnh hưởng lên tình trạng sâu răng ở những bệnh nhân mới mắc bệnh gần đây.

BS Thụy có nhận xét, người bệnh bệnh thận mạn được chẩn đoán và phân chia giai đoạn dựa vào độ thanh lọc Creatinin theo KDIGO (2012); độ thanh lọc Creatinin càng giảm thể hiện chức năng thận càng giảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan nghịch yếu (r = - 0,24, p < 0,001) giữa độ thanh lọc Creatinin với chỉ số SMT; tức là khi độ thanh lọc càng giảm thì chỉ số SMT càng tăng; khi chức năng thận càng giảm tình trạng sâu răng càng xấu.

Về phân tích mô hình hồi quy đa biến, sau khi kiểm soát các yếu tố tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng bệnh kèm, thói quen chăm sóc sức khỏe răng miệng, thói quen hút thuốc, uống rượu. Kết quả ghi nhận tuổi và độ thanh lọc Creatinin liên quan có ý nghĩa với chỉ số SMT.

Tác giả nghiên cứu cho biết, SMT là chỉ số phản ánh tình trạng sâu răng theo diễn tiến thời gian và không hoàn nguyên, tức chỉ số này ở một người chỉ có tăng chứ không có giảm. Nên yếu tố tuổi sẽ độc lập đối với tình trạng bệnh thận mạn, kỹ thuật lọc máu, giới tính, thói quen hút thuốc, tình trạng đái tháo đường. Người lớn tuổi hơn ở cả nhóm chứng, nhóm bệnh đều có ít răng hơn so với người trẻ tuổi. Trung bình người lớn hơn 2 tuổi thì ít hơn 1 răng. Trong nghiên cứu, chỉ số SMT tăng lên 0,08 răng khi bệnh nhân tăng thêm 1 tuổi; tăng 0,02 răng khi độ thanh lọc Creatinin giảm 1ml/phút (chỉ số SMT tăng khi chức năng thận giảm).

Có nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy biến số giới tính, hút thuốc, tình trạng đái tháo đường lên chỉ số SMT đều có ý nghĩa thống kê, ngoài ra sử dụng mô hình hồi quy trong nghiên cứu có khả năng dự báo tốt.
Minh Tâm
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 307

Số lượt truy cập: 9284912

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang