
Bướu giáp nhân là bệnh lý nội tiết rất thường gặp, với sự phát triển của siêu âm, tần suất phát hiện được nhân giáp có thể lên đến hơn 60%.
Bướu giáp nhân thường gặp ở nữ giới, gấp 4 lần so với nam giới; tần suất bướu giáp nhân tăng theo tuổi và gặp nhiều ở vùng có thiếu hụt I-ốt.
Có những người phát hiện bệnh do tình cờ khi khám sức khỏe tổng quát; hơn 90% bướu giáp nhân là lành tính, 5-10% là ác tính. Đối với những bệnh nhân có bướu giáp nhân lành tính, không có triệu chứng cần tránh những điều trị không cần thiết.
Đa số bệnh nhân bị bướu giáp nhân không có triệu chứng, một số ít có các triệu chứng chèn ép như đau, nuốt khó, khó thở, khàn tiếng. Nếu bệnh nhân có tiền căn xạ trị vùng cổ, hoặc gia đình có người bị ung thư tuyến giáp cần gợi ý đến nguy cơ ung thư tuyến giáp.
Bác sĩ chuyên khoa nội tiết có thể khám phát hiện nhân giáp, có kích thước > 1 cm, nằm vị trí dễ phát hiện, nếu sờ thấy nhân giáp có mật độ cứng, mới xuất hiện và đau có thể là nang tuyến giáp xuất huyết hoặc viêm tuyến giáp bán cấp. Trong trường hợp nhân giáp không di động kèm với hạch cổ, gợi ý có khả năng ác tính.
Hiện nay, các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh được sử dụng rộng rãi để xác định bướu giáp nhân.
Trước hết là xét nghiệm chức năng tuyến giáp bằng cách đo nồng độ TSH và FT4. Có khoảng 10% bệnh nhân có TSH bị ức chế, gợi ý nhân giáp có chức năng, lúc đó bác sĩ sẽ cho làm thêm xét nghiệm xạ hình tuyến giáp. Nếu TSH tăng thì làm thêm xét nghiệm kháng thể antithyroperoxidase (Anti-TPO) để xác dịnh viêm tuyến giáp Hashimoto. Bệnh nhân cũng được thực hiện xét nghiệm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ để loại trừ ung thư tuyến giáp đi kèm. Nếu gia đình bệnh nhân có người bị ung thư tuyến giáp dạng tủy, cần đo them nồng độ calcitonin.
Trên lâm sàng, siêu âm tuyến giáp là xét nghiệm hình ảnh giúp chẩn đoán bướu giáp nhân chính xác. Siêu âm tuyến giáp giúp phát hiện các nhân không sờ thấy được qua thăm khám lâm sàng; siêu âm giáp xác định là bướu đơn nhân hay đa nhân; đo kích thước các nhân, đo thể tích bướu giáp, phân biệt các nang đơn thuần có nguy cơ bị ung thư rất thấp với các nhân đặc và nhân hỗn hợp có nguy cơ bị ung thư tuyến giáp cao hơn.
Siêu âm còn giúp hỗ trợ chẩn đoán qua chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm, cũng như việc điều trị và theo dõi hiệu quả điều trị.
Một xét nghiệm được thực hiện là xạ hình tuyến giáp, xét nghiệm này được thực hiện khi bệnh nhân có TSH thấp, thường xạ hình với I-131 hoặc Tc-99m.
Kết quả xạ hình nhân nóng là nhân tăng chức năng; tăng bắt chất phóng xạ, gặp ở 10% bướu giáp nhân; hầu hết là lành tính. Nhân lạnh là nhân giảm chức năng; giảm bắt chất phóng xạ. Trường hợp này có nguy cơ ung thư khoảng 5%. Nhân ấm là trường hợp bắt tương đương mô xung quanh. Do đó, đối với trường hợp bệnh nhân có TSH thấp, xạ hình là nhân nóng thì có thể không cần chọc hút tế bào bằng kim nhỏ.
Xét nghiệm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) là thủ thuật giúp phân biệt bướu giáp nhân là lành tính hay ác tính. Đây là kỹ thuật an toàn, dễ thực hiện, có thể làm nhiều lần theo chỉ định bác sĩ. Tất cả những bướu giáp nhân đơn độc > 1 cm nên làm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (trừ trường hợp đó là nhân chức năng trên TSH giảm và tăng bắt xạ trên xạ hình). Nếu gia đình có người bị ung thư, nhân giáp < 1cm cần thực hiện xét nghiệm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ.
Đối với những bệnh nhân có bướu giáp đa nhân, xét nghiệm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ được thực hiện trên nhân có các đặc điểm nghi ngờ ác tính trên siêu âm.
Người thực hiện xét nghiệm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ phải là những cán bộ y tế chuyên khoa, có kinh nghiệm; xét nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn 95%. Đa số những bướu giáp nhân lành tính không cần điều trị đặc hiệu, chỉ cần theo dõi định kỳ bằng siêu âm. Những bướu giáp nhân có nguy cơ ung thư, có triệu chứng chèn ép và nhân giáp tăng chức năng, cần được điều trị bởi bác sĩ chuyên khoa nội tiết.
Những bệnh nhân ở vùng thiếu hụt I ốt, tiền sử có xạ trị vùng cổ, những bệnh nhân trẻ lo lắng về nguy cơ phát triển của bướu giáp có thể bác sĩ sẽ điều trị. Thường bác sĩ sẽ đặt môi trường điều trị là TSH ở mức giới hạn thấp của bình thường; những bệnh nhân có TSH ở mức giới hạn thấp ở bình thường việc điều trị ức chế bằng thyroxine không có lợi.
Đối với những bệnh nhân trên 60 tuổi, có bệnh mạch vành đi kèm, có rối loạn nhịp tim, TSH thấp, bệnh nhân có bướu nhân to hoặc bướu giáp nhân đã được chẩn đoán từ lâu không nên điều trị ức chế bằng thyroxine. Việc điều trị bằng phẫu thuật, điều trị bằng Iod phóng xạ hoặc tiêm cồn qua da sẽ do bác sĩ chuyên khoa nội tiết quyết định trên những trường hợp cụ thể của từng bệnh nhân.
Bảo Trâm