
Ở các nước đang phát triển, bệnh lao là vấn đề quan trọng. Phần lớn các trường hợp mắc lao tại phổi; có 25% người lớn mắc lao ngoài phổi- nguyên phát ở hạch bạch huyết và lao màng phổi.
Lao màng phổi đứng hàng đầu trong các thể lao phổi, thường thứ phát sau lao phổi. Lao màng phổi biểu hiện phản ứng quá mẫn với protein vi trùng lao. Lao màng phổi thường gặp ở tuổi thiếu niên, người trẻ tuổi, tiên lượng điều trị lâm sàng tốt. Nếu chẩn đoán và điều trị sai, bệnh diễn tiến nặng và 65% có biến chứng như viêm mủ màng phổi, tràn dịch kết hợp với tràn khí màng phổi, dày dính nhiều ở màng phổi, ổ cặn màng phổi.
Về sinh bệnh học cho thấy có lieên quan đến sự vỡ mảng bã đậu từ màng phổi cạnh màng phổi và khoang màng phổi; màng phổi viêm gây tắc nghẽn dẫn lưu bạch huyết trong màng phổi; làm tăng tạo dịch màng phổi và giảm hấp thu dịch màng phổi.
Triệu chứng lâm sàng cho thấy 2/3 bệnh lao màng phổi cấp tính, đột ngột bệnh nhân đau ngực, sốt cao, khó thở. Triệu chứng cơ năng thường ở người trẻ 16-30 tuổi, với đau ngực, đau nhói hoặc đau âm ỉ ở đáy phổi bên tràn dịch, tăng khi ho. Khi ho, bệnh nhân ho khan từng cơn khi thay đổi tư thế; triệu chứng khó thở mức độ tùy thuộc số lượng dịch, thường ở mức vừa phải. Sốt thường từ 38-39,5 độ C, có thể chỉ sốt nhẹ và ớn lạnh về chiều. Triệu chứng toàn thân: cảm giác mệt mỏi, biếng ăn, sụt cân.
Lâm sàng khám thực thể thấy vẻ mặt xanh xao, hốc hác nhưng lưỡi sạch; mạch nhanh, tần số hô hấp tăng; có thể thấy lồng ngực đau giảm hoạt động và có vẻ căng phồng; có hội chứng 3 giảm ở đáy phổi; nghe tiếng cọ màng phổi thô ráp rõ ở vùng nách, nghe được ở giai đoạn đầu và giai đoạn dịch được hấp thụ.
Khi dịch màng phổi nhiều, có thể nghe thấy tiếng thổi màng phổi, tiếng nói rung rung (tiếng dế kêu), tiếng nói thầm trong lồng ngực (tiếng ngực thầm).
Trên X-quang phổi, có hình ảnh kinh kđiển mờ đồng nhất, toàn diện, giới hạn trên là đường cong Damoiseau thấp cao tùy lượng dịch; 1/3 bệnh nhân tổn thương nhu mô phổi kèm tràn dịch; mức độ tràn dịch màng phổi phần lớn trung bình, từ 1/3-1/2 phế trường.
Đặc điểm dịch màng phổi có màu vàng chanh, dịch tiết theo tiêu chuẩn Light, thỏa mãn ít nhất một tiêu chuẩn sau: protein DMP/protein máu > 0,5; LDH DHP/LDH máu > 0,6; LDH DMP > 2/3 giới hạn trên bình thường của LDH máu.
Đối với xét nghiệm tế bào, ưu thế lympho bào thường > 90%, rất hiếm có tế bào trung mô (mesothelial cell) thường < 5%.
Xét nghiệm cận lâm sàng Aenosine deaminase (ADA) là một enzyme chiếm ưu thế trong tế bào lymyphoT, đây là xét nghiệm dễ dàng và ít tốn kém; giá trị ngưỡng 40 UI/L.
Xét nghiệm cận lâm sàng còn được thực hiện các xét nghiệm miễn dịch, xét nghiệm vi trùng; tiêu chuẩn vàng là sinh thiết màng phổi; đối với sinh thiết màng phổi mù hiện diện của u hạt ở màng phổi xác định chẩn đoán lao màng phổi; sinh thiết dương tính trong 60-80% trường hợp; cấy mẫu sinh thiết màng phổi trên môi trường Loweinstein dương tính là 55-80%.
Đối với phương phátp sinh thiết chải màng phổi giúp chẩn đoán tế bào học, được áp dụng chủ yếu để chẩn đoán ung thư màng phổi, hiệu quả chẩn đoán ung thư đạt từ 87% đến 97%.
Đối với phương pháp sinh thiết màng phổi qua soi lồng ngực, quan sát trực tiếp và sinh thiết đúng vị trí tổn thương, chủ yếu để chẩn đoán ung thư màng phổi, hiệu quả chẩn đoán đến 95%; tuy nhiên, phương pháp này có giá thành cao.
Tóm lại, chẩn đoán lao màng phổi gồm hiện diện của trực khuẩn lao trong đàm, dịch màng phổi, hoặc mẫu sinh thiết màng phổi; hoặc hiện diện của các u hạt trong màng phổi. Chẩn đoán cũng khá chắc chắn nếu gia tăng nồng độ ADA hay interferon gamma trong dịch màng phổi.
Đối với điều trị lao màng phổi, mục tiêu là ngăn ngừa phát triển thành lao hoạt động; cải thiện triệu chứng và ngăn ngừa biến chứng dày màng phổi.
Điều trị bằng thuốc khuyến cáo điều trị cho cả lao phổi và lao ngoài phổi. Liệu trình 6 tháng gồm 2 tháng đầu: INH, Rifampin và PZA. Có thể thêm EMB nếu kháng sinh đồ nhạy hoặc vùng dịch tễ ít đề kháng; 4 tháng sau thuốc điều trị là INH và Rifampin. Có thể dùng liệu trình điều trị 9 tháng với INH và Rifampin nếu kháng sinh đồ còn nhạy. Trường hợp bệnh nhân có triệu chứng khó thở nhiều có thể chọc dịch giải áp.
Về diễn biến điều trị bệnh nhân hết sốt sau 2 tuần cải thiện rõ rệt sau 2 tháng; thời gian trung bình hấp thu hết dịch màn phổi là 6 tuần, có thể kéo dài 12 tuần.
Hồng Sơn