
Tại Hội nghị Khoa học Y tế Công Cộng lần II năm 2015 được tổ chức vào tháng 9/2015, TS. Trần Hữu Tâm – Trung tâm Kiểm chuẩn xét nghiệm TP. Hồ Chí Minh cùng cộng sự đã có báo cáo đề tài “Chất lượng xét nghiệm huyết học tại các phòng xét nghiệm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh” được nhiều đại biểu tham dự quan tâm.
Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2007 đến năm 2015, đối tượng nghiên cứu là các phòng xét nghiệm huyết học tại TP. Hồ Chí Minh, các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và một số đơn vị thuộc Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy số tỉnh, thành phố tham gia ngoại kiểm tăng từ một thành phố năm 2007, lên đến 32 tỉnh thành phố vào năm 2015. Số lượng đơn vị tham gia ngoại kiểm cũng tăng từ 50 đơn vị năm 2007 đến 1.093 đơn vị vào năm 2015, theo tác giả nghiên cứu là đã có sự chuyển biến tích cực của các phòng xét nghiệm trong công tác kiểm soát chất lượng, công tác ngoại kiểm triển khai thí điểm ban đầu tại TP. Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng đến các tỉnh khác.
Cụ thể đối với số lượng phòng xét nghiệm tham gia ngoại kiểm huyết học đã tăng đáng kể qua từng năm, từ 63 phòng xét nghiệm năm 2008 tăng lên 235 phòng xét nghiệm năm 2014, điều này cho thấy xét nghiệm huyết học ngày càng được tăng cường kiểm soát chất lượng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ xét nghiệm có z-score vượt cộng trừ 3 giảm dần qua các mẫu trong năm 2014, điều này chứng tỏ chất lượng xét nghiệm đã được cải thiện. Riêng những kết quả mẫu bất thường, mẫu có nồng độ thấp khả năng xét nghiệm ở những mẫu này chưa tốt. Đối với các số thông số thực hiện khá tốt gồm có Hb, PLT, RBC, RDW-CV, WBC; tác giả nghiên cứu lưu ý các phòng xét nghiệm cần chú ý hơn các thông số HCT, MCH, MCHC, MCV, PCT, RDW-SD. Kết quả phân loại chất lượng phòng xét nghiệm cho thấy chất lượng xét nghiệm của bệnh viện tuyến trung ương và thành phố, tỉnh cao hơn bệnh viện quận, huyện; sau đó là đến bệnh viện tư nhân, phòng khám đa khoa và phòng xét nghiệm tư nhân xếp cuối cùng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, chất lượng xét nghiệm giữa các phòng xét nghiệm cũ có tỷ lệ sai số 10,2% và phòng xét nghiệm mới có tỷ lệ sai số là 15,4%; điều này theo tác giả nghiên cứu là do công tác ngoại kiểm đã có những biện pháp can thiệp, như vậy tác động tích cực đến việc thay đổi, giảm thiểu được sai số của các đơn vị.
Tác giả đơn cử riêng đối với thông số tiểu cầu (PLT), đây là thông số khá quan trọng trong xét nghiệm huyết học, kết quả phân tích cho thấy chất lượng xét nghiệm thông số PLT tương đối tốt, tỷ lệ kết quả có z-score vượt ngoài giới hạn cho phép thấp. Ở mức nồng độ ≥ 400 (x 109/L); kết quả xét nghiệm tương đối ổn định, ít dao động và sai số hơn so với mức nồng độ < 400 (x 109/L), tác giả nghiên cứu đã nhấn mạnh các phòng xét nghiệm cần chú ý cải thiện chất lượng ở mức nồng độ thấp.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy kết quả xét nghiệm của các phòng xét nghiệm tham gia nghiên cứu ít rơi vào trường hợp sai số ngẫu nhiên và sai số hệ thống. Đối với phương pháp để các phòng xét nghiệm thực hiện thông số tiểu cầu thì phương pháp đo quang có tỷ lệ sai số cao hơn (11,57%) so với phương pháp điện trở kháng (5,95%).
Tác giả nghiên cứu đã khuyến nghị cần tiếp tục duy trì và triển khai công tác ngoại kiểm tra chất lượng xét nghiệm cho các phòng xét nghiệm; tăng cường công tác đảm bảo chất lượng xét nghiệm, giảm thiểu sai số cho các phòng khám đa khoa và phòng xét nghiệm tư nhân. Các phòng xét nghiệm cần có đánh giá và lựa chọn phương pháp có độ tin cậy cao trong xét nghiệm huyết học, cụ thể là phương pháp đo quang (optical count) có tỷ lệ sai số cao hơn so với phương pháp điện trở kháng (impedance count).
Chúng ta biết rằng, xét nghiệm là một trong những yêu cầu cận lâm sàng khá thường quy tại các bệnh viện; trong đó các xét nghiệm huyết học đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán, theo dõi điều trị, can thiệp ngoại khoa, truyền máu... có ảnh hưởng đến sinh mạng người bệnh. Điều này đòi hỏi kết quả xét nghiệm tại các cơ sở y tế phải được đảm bảo chất lượng.
Để thực hiện tốt công tác đảm bảo chất lượng xét nghiệm, Bộ Y tế đã ban hành những quy định bắt buộc các phòng xét nghiệm phải kiểm soát chất lượng thông qua hoạt động nội kiểm và ngoại kiểm, trong đó hoạt động ngoại kiểm được triển khai từ đơn vị khách quan bên ngoài nhằm đánh giá chất lượng xét nghiệm, phát hiện các sai số, sai sót từ đó xác định nguyên nhân, khắc phục sai số, nâng cao chất lượng xét nghiệm; cụ thể là Thông tư số 01/2013/TT-BYT của Bộ Y tế về hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng xét nghiệm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Tường Huân