
Tại Hội nghị Khoa học Y tế Công cộng lần 2 năm 2015, TS.BS Nguyễn Vụ Thương cùng cộng sự Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh đã có báo cáo đề tài nghiên cứu “Tình hình xét nghiệm HIV ở người nghiện chích ma túy nhiễm HIV tại khu vực phía Nam”.
Nghiên cứu được thực hiện tại 7 tỉnh là Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, Kiên Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Hậu Giang vào năm 2009-2010. Có 3.011 người nghiện chích ma túy (NCMT) tham gia nghiên cứu, trong đó có 250 nam NCMT nhiễm HIV.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nam NCMT nhiễm HIV từng xét nghiệm HIV của khu vực phía Nam thấp với tỷ lệ 31%; cá biệt rất thấp tại tỉnh Đồng Tháp (0%) và Hậu Giang (8,7%). Có khoảng 70% người NCMT nhiễm HIV chưa biết tình trạng nhiễm HIV của bản thân.
Đối với những người NCMT có tiếp xúc với mạng lưới đồng đẳng viên; tỷ lệ biết nơi mua, nơi nhận bơm kim tiêm (BKT) miễn phí, các thông tin an toàn tình dục, tự nguyện xét nghiệm HIV cao hơn nhóm không có tiếp cận với đồng đẳng viên. Cán bộ y tế cũng là nguồn cung cấp thông tin các kiến thức phòng chống HIV và khuyến khích người NCMT xét nghiệm HIV nhiều hơn so với nhóm không tiếp cận được nhân viên y tế.
Đối với nhóm nam NCMT có bạn tình bất chợt không sử dụng bao cao su thì tỷ lệ xét nghiệm HIV cũng thấp hơn so với nhóm nam NCMT không có bạn tình bất chợt. Còn đối với những người nam NCMT luôn sử dụng bao cao su đối với bạn tình bất chợt thì tỷ lệ dùng chung BKT trong tháng qua cũng thấp hơn so với nhóm ngược lại; đồng thời kiến thức, thái độ về nguy cơ nhiễm HIV cũng tốt hơn. Đối với nhóm NCMT vùng nông thôn, tỷ lệ tiếp cận xét nghiệm HIV tự nguyện cũng thấp hơn so với nhóm NCMT ở khu vực thành thị.
Một báo cáo của ThS. Nông Thị Tuyến- Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên tại Hội nghị là nghiên cứu “Thực trạng đồng nhiễm HBV, HCV ở người nhiễm HIV/AIDS tại Bệnh viện A Thái Nguyên” cũng được quan tâm. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3-12/2014 trên 94 bệnh nhân nhiễm HIV có đồng nhiễm HBV, HCV điều trị tại Khoa Truyền nhiễm- Bệnh viện A Thái Nguyên.
Theo tác giả nghiên cứu, tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm viêm gan vi rút B là bệnh nhân có HBs Ag(+). Ngoài ra bệnh nhân được xét nghiệm ALT, AST, Bilirubin, Protein máu, Albumin máu, công thức máu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HBV trên bệnh nhân nhiễm HIV la2 13,8%; tỷ lệ đồng nhiễm HCV trên bệnh nhân HIV ; à 66%. Đây là tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ nhiễm viêm gan vi rút C trong cộng đồng. Đối tượng nghiên cứu nhiễm cả 2 loại viêm gan vi rút B và C là 18 trường hợp, chiếm tỷ lệ 19,2%. Trong đó 17 trường hợp là có TCMT, còn 01 trường hợp không có TCMT.
Cũng theo kết quả nghiên cứu, hầu hết các bệnh nhân đều có các triệu chứng lâm sàng là mệt mỏi, chán ăn, tiểu sẫm màu, vàng da, đau tức hạ sườn phải đây là những trường hợp viêm gan mãn tính nên các triệu chứng không rầm rộ, tuy nhiên phần lớn bệnh nhân đang ở giai đoạn lâm sàng 3 của nhiễm HIV nên đây cũng là triệu chứng của bệnh nhân viêm gan và cũng là triệu chứng của bênh nhân nhiễm HIV.
Những bệnh nhân có viêm gan vi rút C có 06 trường hợp đã có biến chứng xơ gan cổ chướng. Bệnh nhân đồng nhiễm viêm gan ( viêm gan vi rút B, viêm gan vi rút C hoặc cả 2) nhìn chung là có thiếu máu nhẹ, trường hợp nặng nhất số lượng hồng cầu còn 1 triệu/ml máu (viêm gan C). Có nhiều lý do để bệnh nhân này dẫn đến thiếu máu như tổn thương gan, xơ gan giai đoạn đầu các triệu chứng còn chưa rõ và một số bệnh nhân đang điều trị HIV bằng thuốc ARV cũng có thể gây thiếu máu.
Đối với các xét nghiệm sinh hóa đánh giá chức năng gan cho thấy tổn thương gan là do viêm gan mãn tính nên thay đổi về sinh hóa không nhiều, AST và ALT trung bình tăng nhẹ (1,5 lần). Tuy nhiên do tổn thương gan mãn nên nồng độ Bilirubin trong máu đều tăng cao, Protide máu và Albumin máu phần lớn trong giới hạn bình thường, nhưng có một số trường hợp có Protide và Albumin máu giảm và trên lâm sàng trong nhóm đối tượng này cũng có phù và có cổ chướng nên có thể có những trường hợp xơ gan cổ chướng kèm theo.
Trần Mai