
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) tại khoa hồi sức tích cực (HSTC) nhi là một vấn đề y tế quan trọng do tính chất thường gặp với tỷ lệ thay đổi tùy theo quốc gia 6,1-29% trong tổng số bệnh nhân nằm tại HSTC nhi, và do những hậu quả của NKBV gây ra đó là thời gian điều trị và tăng tỷ lệ tử vong. Đã có nhiều nghiên cứu về hậu quả của NKBV, tuy nhiên ít có các nghiên cứu dọc ảnh hưởng của NKBV lên thời gian điều trị, chi phí điều trị và tỷ lệ tử vong tại khoa HSTC nhi thực hiện tại Việt Nam.
Tác giả nghiên cứu Hà Mạnh Tuấn cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh thực hiện nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu nhằm:
1. Xác định thời gian điều trị, chi phí điều trị và tỷ lệ tử vong do NKBV.
2. So sánh thời gian điều trị, chi phí điều trị và tỷ lệ tử vong do NKBV với các ca không NKBV.
Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân điều trị tại khoa HSTC nhi của bệnh viện Nhi Đồng 1, từ tháng 10/2003 đến 12/2004 thỏa những điều kiện sau:
- Tiêu chuẩn chọn bệnh: bệnh nhân từ 1 tháng tuổi đến 15 tuổi, điều trị tại khoa HSTC trên 48 giờ và không có dấu hiệu của NKBV trong vòng 48 giờ sau khi nhập HSTC.
- Tiêu chuẩn loại trừ: những bệnh nhân có NKBV từ trước khi vào HSTC, hay bệnh nhi tử vong trong vòng 48 giờ sau nhập HSTC.
Về thu thập số liệu: Mẫu được chọn liên tục không ngẫu nhiên. Bệnh nhân được khám, đánh giá tình trạng bệnh, đánh giá chỉ số PRISM (Pediatric Risk ò Mortality), bệnh cơ bản theo phiếu thu thập. Tiêu chuẩn chẩn đoán NKBV theo tiêu chuẩn của Cơ quan phòng ngừa và kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (CDC).
Bác sĩ Hà Mạnh Tuấn phân tích báo cáo, có 671 đối tượng nghiên cứu đạt tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu, tuổi trung bình là 58 tháng (gần 5 tuổi); nam 58,7%; nữ 41,3%. Có 154 bệnh nhân được ghi nhận có NKBV theo đúng tiêu chuẩn với tỷ lệ NKBV là 23%. Trong đó các NKBV thường gặp theo thứ tự là VPBV, NKHBV, NKVM và NKTN chiếm tỷ lệ 85,5% trong tổng số các ca NKBV.

Thời gian điều trị tại HSTC của những bệnh nhân NKBV xét chung là dài hơn có ý nghĩa so với các bệnh nhân không có NKBV gần 14 ngày. Khi so sánh thời gian điều trị của khảo sát với các nghiên cứu khác thì không có sự khác biệt nhiều. Xét riêng đối với từng loại NKBV thì VPBV kéo dài thời gian điều trị tại HSTC là dài nhất trên 20 ngày, kế đến là NKHBV kéo dài gần 5 ngày có ý nghĩa thống kê. Do đây là các loại NKBV nặng cần phải điều trị bệnh căn bản và điều trị các NKBV biến chứng, nhất là VPBV khác thì sự khác biệt về thời gian điều trị tại HSCC giữa nhóm không có NKBV thì không có sự khác biệt có ý nghĩa. Vì các trường hợp NBBV này sau khi đã được điều trị ổn định về các bệnh nền và tình trạng cần nằm HSTC thì được chuyển ra ngoài để chăm sóc tiếp tục.
Xét về chi phí điều trị thì NKBV làm tăng thêm chi phí điều trị tại HSTC gần trên 5 triệu đồng. Sự gia tăng chi phí đối với NKBV được ghi nhận trong các nghiên cứu khác. Trong đó chí phí do VPBV là cao nhất kế đến là NKVM và NKHBV. Sự gia tăng này là do chi phí thêm để chăm sóc và điều trị các biến chứng do NKBV gây ra. Nếu tính trên tổng số bệnh nhân bị NKBV thì số tiền gia đình bệnh nhân phải chi thêm là gần 750 triệu đồng (#45.000 USD) mỗi năm tại khoa HSTC. Đây là số tiền khá lớn tạo thêm gánh nặng về chi phí cho gia đình bệnh nhân, bệnh viện và xã hội. Những chi phí này chỉ là chi phí trực tiếp mà gia đình phải trả, những chi phí khác như về ngày công lao động của gia đình bị mất đi, chi phí về thời gian công sức của nhân viên y tế phải bỏ ra để chăm sóc cho bệnh nhân bị NKBV chưa được tính vào. Do đó chi phí trong thực tế cho NKBV sẽ cao hơn con số thực tính qua biên lai thu phí.
Tỷ lệ tử vong của NKBV cao hơn so với các trường hợp không NKBV gần gấp đôi (36% so với 19%, với phân số tử vong qui trách là 27,5%). Tỷ lệ tử vong này có thể thay đổi so với các nghiên cứu khác tùy theo điều kiện và năng lực thực tế tại từng nới và đặc điểm bệnh của bệnh nhân khảo sát, tuy nhiên tử vong quy trách không khác so với các nghiên cứu khác. Trong các loại NKBV thì VPBV và NKHBV có tỷ lệ tử vong cao hơn có ý nghĩa so với không NKBV, với tử vong phân số tử vong quy trách là 45,2% và 29,6%. Điều này có nhiều yếu tố góp phần đó là do VPBV và NKHBV làm cho bệnh nặng hơn, đồng thời biến chứng này thường xảy ra trên cơ địa bệnh nhân có bệnh nặng hay bệnh đi kèm. Các loại NKBV khác thì tỷ lệ tử vong không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê so với không NKBV do không có bệnh nặng đi kèm và các biến chứng này không khó để kiểm soát.
Tác giả nghiên cứu có kết luận. Qua nghiên cứu này cho thấy NKBV làm thời gian điều trị kéo dài, chi phí tăng thêm và tỷ lệ tử vong nhiều hơn, nhất là VPBV và NKHBV. Do đó để nâng cao chất lượng chăm sóc HSTC cần phải thực hiện tốt các biện pháp phòng chống NKBV, cần tập trung cho các NKBV thường gặp là VPBV và NKHBV.
Lâm Quyên