Tai biến mạch máu não đã, đang và sẽ là vấn đề thời sự của y học hiện đại vì số người mắc lớn, chi phí điều trị, chăm sóc hết sức tốn kém, làm giảm chất lượng cuộc sống và gây nên tỷ lệ tàn tật, tử vong cao.

Nhồi máu não là thể hay gặp nhất trong tai biến mạch não, chiếm 85%. Vì vậy, số bệnh nhân tử vong do nhồi máu não cũng khá lớn. Hiểu biết về các yếu tố có liên quan đến kết cục lâm sàng có thể dẫn đến các biện pháp can thiệp hiệu quả hơn để giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện tình trạng chức năng ở những bệnh nhân bị nhồi máu não.
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố tiên lượng tử vong do tai biến mạch não nói chung và chảy máu não nói riêng. Tuy nhiên các nghiên cứu về các yếu tố tiên lượng tử vong do nhồi máu não còn hạn chế. Vừa qua, nhóm tác giả Võ Hồng Khôi – Bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố tiên lượng tử vong trên bệnh nhân nhồi máu não trong bốn tuần đầu”.
Bác sĩ Võ Hồng Khôi – Bệnh viện Bạch Mai phân tích báo cáo, 136 bệnh nhân nhồi máu não có tuổi trung bình là 64,8; lứa tuổi hay gặp nhất là trên 50 tuổi chiếm 90,5%. Kết quả của nghiên cứu phù hợp với các nghiên cứu khác; theo Suk Y.Kang tuổi trung bình là 65,1. Tai biến mạch não nói chung và nhồi máu não nói riêng có thể gặp ở mọi lứa tuổi và “tuổi càng cao thì tỷ lệ tai biến càng nhiều”. Tỷ lệ bệnh nhân nam/nữ là 1,6. Theo Suk Y.Kang là 1,3. Nhìn chung nam giới có xu hương mắc cao hơn nữ, có thể do tần suất các yếu tố nguy cơ như: tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, uống rượu… xuất hiện ở nam cao hơn nữ.
Nghiên cứu BS Khôi báo cáo cho thấy, liệt vận động phổ biến nhất trong số các triệu chứng lâm sàng chiếm 86,7%. Rối loạn ý thức là triệu chứng rất quan trọng, với điểm Glasgow trung bình là khá cao 14,1.
Trong số 136 bệnh nhân nhồi máu não có 100 trường hợp nhồi máu não thuộc hệ động mạch cảnh (73,5%) và 36 trường hợp nhồi máu não thuộc hệ sống-nền (26,5%). Trong số đó những bệnh nhân có điểm ASPECT dưới 8 và pc-ASPECT dưới 8 lần lượt là 22,1% và 8,1%. Kết quả trên gần với nghiên cứu của Nguyễn Duy Trinh là 63,6% bệnh nhân có ASPECT > 7, 72,7% bệnh nhân nhồi máu hệ sống nền có điểm pc-ASPECT > 7.

BS Khôi cho biết, phân tích hồi quy đơn biến về mối liên quan giữa một số triệu chứng trên với kết cục sống còn của bệnh nhân nhồi máu não, đã tìm thấy khá nhiều yếu tố có ý nghĩa tiên lượng đó là: Rối loạn ý thức, rối loạn nuốt, rối loạn cơ tròn, rối loạn ngôn ngữ, nhức đầu, nôn, điểm ASPECT và pc-ASPECT, di lệch đường giữa trên phim chụp và tăng bạch cầu trong máu, viêm phổi. Kết quả của nghiên cứu tương tự như kết quả nghiên cứu của Lý Ngọc Tú Châu, Nam Huân và Vũ Anh Nhị cũng chỉ ra rằng: nghiện rượu, điểm Glasgow, huyết áp, tăng thân nhiệt, rối loạn nhịp thở, liệt nửa người hoàn toàn, rối loạn cơ vòng, giãn đồng tử, co giật, rối loạn phản xạ nuốt, mất phản xạ ánh sáng là những yếu tố có liên quan tới kết cục của bệnh nhân.
Đưa 10 yếu tố này vào phân tích hồi quy đa biến, kết quả thu được 2 yếu tố: điểm Glasgow dưới 13 điểm, điểm ASPECT và pc-ASPECT dưới 8 điểm là những yếu tố tiên lượng độc lập kết cục tử vong của bệnh nhân nhồi máu não (với p<0,05). Nghiên cứu của Bhatia ghi nhận điểm Glasgow trung bình trong nhóm có kết cục xấu và tốt lần lượt là 6 và 13 điểm, khác biệt có ý nghĩa (với p<0,001). Vemmos cũng ghi nhận điểm Glasgow có liên quan đến kết cục sống còn trong phân tích đơn biến và đa biến. Tương tự theo nghiên cứu của Châu Nam Huân thì điểm Glasgow có ý nghĩa tiên lượng độc lập kết cục của bệnh nhân nhồi máu não. Nghiên cứu của Nguyễn Bá Thắng đánh giá hình ảnh tổn thương não dựa vào thang điểm ASPECT ghi nhận nguy cơ tử vong tăng khoảng 4% với mỗi điểm ASPECT giảm đi. Theo Nguyễn Duy Trinh 100% bệnh nhân có ASPECT < 5 điểm đều có tiên lượng lâm sàng xấu.
BS Khôi kết luận nghiên cứu, nhồi máu não gặp chủ yếu ở người trên 50 tuổi, nam gặp nhiều hơn nữ, điểm hôn mê Glasgow trung bình 14,1. Liệt vận động là triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất. Số bệnh nhân nhồi máu não thuộc vùng cấp máu hệ động mạch sống-nền, tỷ lệ đó xấp xỉ 2/1. Sử dụng thang điểm ASPECT và pc-ASPECT để đánh giá mức độ tổn thương nhồi máu não, cho thấy có 30,2% bệnh nhân có điểm ASPECT và pc-ASPECT < 7 điểm, 69,8% bệnh nhân có điểm ASPECT và pc-ASPECT > 7 điểm. Số bệnh nhân nhồi máu não có gây hiệu ứng khối di lệch đường giữa chiếm tỷ lệ 13,2%. Có mười yếu tố là: Rối loạn ý thức, rối loạn nuốt, rối loạn cơ tròn, rối loạn ngôn ngữ, nhức đầu, nôn, điểm ASPECT và pc-ASPECT, di lệch đường giữa trên phim chụp và tăng bạch cầu trong máu, viêm phổi liên quan tới kết cục sống còn của bệnh nhân nhồi máu não. Tuy nhiên chỉ có hai yếu tố: điểm hôn mê Glasgow dưới 13 điểm, điểm ASPECT và pc-ASPECT dưới 8 điểm là có ý nghĩa tiên lượng độc lập kết cục tử vong của bệnh nhân nhồi máu não.
Anh Huy