[Đăng ngày: 12/12/2018]
Dịch HIV tập trung chủ yếu trong nhóm người nghiện chích ma túy (NCMT), người bán dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới. Nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP) là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong sớm và bệnh tật. Điều trị thay thế nghiện CDTP bằng Methadone đã chứng minh được hiệu quả trong việc giảm tác hại có liên quan đến việc sử dụng ma túy. Cải thiện được tình trạng sức khỏe của người nghiện, điều trị kịp thời các bệnh nhiễm trùng cơ hội cũng như các bệnh khác có liên quan đến việc sử dụng ma túy.

Năm 2016 nhóm tác giả nghiên cứu Lê Thị Hường cùng cộng sự Cục phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS thành phố Cần Thơ thực hiện nghiên cứu hồi cứu hồ sơ bệnh án kết hợp khai thác thông tin trực tiếp báo cáo đề tài “Thực trạng điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại thành phố Cần Thơ giai đoạn 2010-2016”.

Đối tượng nghiên cứu là số liệu thu thập được từ hồ sơ bệnh án của 125 bệnh nhân đã và đang điều trị tại 4 cơ sở điều trị Methadone Ninh Kiều, Cái Răng, Ô Môn và Thốt Nốt của thành phố Cần Thơ. Kết hợp với phỏng vấn 125 các đối tượng là người nhà (người hỗ trợ điều trị) của bệnh nhân bỏ trị Methdone.

Tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích, tổng số 250 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên tham gia vào nghiên cứu đa phần là nam giới chiếm tỷ lệ 94,8%. Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các nghiên cứu khác như nghiên cứu của Lưu Hoàng Việt tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (nam giới chiếm 91,6%). Điều này là rất phù hợp vì nam giới thường sử dụng các chất gây nghiện nhiều hơn và điều kiện tiếp cận với các chất dạng thuốc phiện cũng dễ dàng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy trên 250 bệnh nhân ĐTNC tham gia điều trị Methdone, hơn một nửa có trình độ học vấn là trung học cơ sở (51,2%), tiếp theo là hai nhóm phổ thông trung học chiếm 22% và tiểu học chiếm 20,8%. Tỷ lệ ĐTNC không được đi học là 5,6%, thấp nhất là trình độ từ trung cấp trở lên chiếm 4%. Kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả của Lưu Hoàng Việt tại quận Ninh Kiều năm 2013 chiếm 56%. Qua phân tích kết quả nghiên cứu tại thành phố Cần Thơ cho thấy người NCMT điều trị Methadone có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất cũng có thể là do độ tuổi trung học cơ sở là tuổi thay đổi tâm sinh lý, đua đòi, dễ bị bạn bè rủ rê lôi kéo sử dụng ma túy. Trình độ học vấn cũng có sự khác nhau của từng vùng miền, nhưng đa số vẫn tập trung ở nhóm có trình độ học vấn thấp.

Đối với thực trạng về tình hình điều trị Methadone:  Trong số 250 ĐTNC, nhóm bệnh nhân bỏ trị Methadone ở giai đoạn ổn định liều bỏ trị (70,4%) và nhóm bệnh nhân duy trì điều trị (80%). Về thời gian điều trị Methadone ở nhóm bệnh nhân bỏ trị (thấp nhất là 3 tháng, cao nhất 67 tháng) và nhóm bệnh nhân duy trì điều trị (thấp nhất là 4 tháng, cao nhất 73 tháng).

Sau điều trị Methadone từ 3-12 tháng: bệnh nhân bỏ trị (40%) và bệnh nhân duy trì điều trị (14,4%) và sau điều trị Methadone  từ > 12-36 tháng : bệnh nhân bỏ trị (40,8%) và bệnh nhân duy trì điều trị (36,8%).

Số bệnh nhân bỏ trị tập trung phần lớn ở nhóm có thời gian điều trị trên từ 3-36 tháng đây cũng là giai đoạn đầu điều trị và ổn định liều điều trị. Thời gian tham gia điều trị điều trị càng lâu nguy cơ tái nghiện (bỏ trị) càng giảm. Vì vậy, chúng ta cần sự đầu tư của cán bộ cơ sở điều trị đặc biệt là tư vấn viên và sự hợp tác của bệnh nhân, gia đình bệnh nhân trong các buổi tư vấn định kỳ, đột xuất ở giai đoạn này.

Thời gian điều trị Methadone trung bình ở nhóm bệnh nhân bỏ trị (20,99 tháng) thấp hơn so với nhóm bệnh nhân duy trì điều trị (36,78 tháng). 

Liều điều trị Methadone trung bình ở nhóm bệnh nhân bỏ trị (59,44mg/ngày) thấp hơn so với nhóm bệnh nhân duy trì điều trị (66,86mg/ngày). Liều điều trị Methadone/ARV ở nhóm bệnh nhân bỏ trị (75,17mg/ngày) thấp hơn so với nhóm bệnh nhân duy trì điều trị Methadone/ARV (104,87mg/ngày). Điều này có thể lý giải việc bệnh nhân điều trị Methadone kết hợp điều trị ARV đã làm tăng liều điều trị Methadone đối với bệnh nhân duy trì điều trị.

Kết quả theo dõi xét nghiệm nước tiểu tìm heroin của 250 ĐTCN tại thành phố Cần Thơ, cho thấy tỷ lệ bệnh nhân sử dụng heroin là 100% lúc khởi điểm điều trị; tỷ lệ heroin trong nước tiểu không giảm sau 3 tháng, tỷ lệ heroin dương tính trong nước tiểu sau 6 tháng còn 21,7%, sau 9 tháng còn 25,8%, sau 12 tháng còn 18,8%, sau 24 tháng còn 12,5%, sau 36 tháng còn 5,8%, sau 48 tháng còn 16,1% và sau 54 tháng còn 5,1%, so với tỷ lệ 17% và 10,66% tương ứng với nghiên cứu tổng hợp cảu Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh.

Sau 54 tháng điều trị, tỷ lệ bệnh nhân trong nghiên cứu còn sử dụng heroin là 5,1%; điều này minh chứng hiệu quả của liệu pháp Methadone đã làm thay đổi hành vi nguy cơ cao liên quan đến sử dụng heroin. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhóm bệnh nhân bỏ liều uống Methadone chưa được cán bộ tư vấn xử lý bỏ liều 100%, điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc bệnh nhân không tiếp tục duy trì điều trị Methadone.

Tác giả có kết luận nghiên cứu, thời gian điều trị Methadone của ĐTNC kéo dài (có khi lên đến 73 tháng). Tuy nhiên, có một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân bỏ trị. Do đó, chương trình điều trị nghiện thuốc phiện bằng Methadone cần triển khai một số hoạt động nhằm hạn chế tỷ lệ bệnh nhân bỏ trị như: thực hiện tốt việc tư vấn thường quy để cung cấp kiến thức và lợi ích của việc điều trị Methadone, hỗ trợ tâm lý, tuân thủ điều trị Methadone/ARV, dự phòng tái nghiện và dinh dưỡng cho bệnh nhân. Các cơ sở điều trị Methadone cần phải kết nối chặt chẽ, tìm hiểu lý do bỏ trị của từng bệnh nhân, ghi nhận vào hồ sơ bệnh án và tích cực tìm kiếm bệnh nhân bỏ trị để vận động họ quay lại điều trị.
Văn Hanh


    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 32

Số lượt truy cập: 9352812

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang