
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Văn Bình cùng cộng sự Bệnh viện K, tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Kết quả sớm của phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng trên bệnh nhân ung thư trực tràng thấp được hóa xạ trị trước mổ tại bệnh viện K”.
Theo tác giả nghiên cứu, tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân là có chẩn đoán xác định UTTT thấp (cực dưới u cách rìa hậu môn < 5cm) với mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến. Giai đoạn lâm sàng trước điều trị T3-4 và/hoặc N1-2 và M0 theo phân loại AJCC 2010. Được hóa xạ trị đồng thời trước phẫu thuật. Được chỉ định phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng đường bụng tầng sinh môn. Có bệnh án ghi chép đầy đủ, biên bản phẫu thuật chi tiết, có mô tả tổn thương trong mổ và theo dõi bệnh nhân đến ít nhất 30 ngày sau phẫu thuật.
Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, đối với kỹ thuật nạo vét hạch trong phẫu thuật nội soi cắt cụt trực tràng, nạo vét hạch liên quan tới việc thắt các mạch máu của trực tràng và cắt toàn bộ MTTT. Theo nguyên tắc, thắt mạch máu ở vị trí càng gần nguyên ủy hơn thì số lượng hạch vét được càng nhiều hơn. Ngày nay, các phẫu thuật viên trên thế giới đều đồng thuận thắt mạch dưới chỗ chia của động mạch đại tràng trái trên là đủ trong phẫu thuật cắt cụt triệt căn UTTT thấp.
Thời gian mổ, tai biến trong mổ và chuyển mổ mở: Trong nghiên cứu của tác giả, thời gian mổ là 139,7 + 29,6 phút. Ca mổ ngắn nhất 110 phút, dài nhất 210 phút. So sánh thời gian phẫu thuật nội soi trực tràng với phẫu thuật mổ mở, tác giả Lourenco T. nghiên cứu trên 4125 trường hợp cho kết quả phẫu thuật nội soi trực tràng lâu hơn mổ mở trực tràng khoảng 40 phút.
Về tai biến trong mổ, BS Phạm VĂn Bình cho biết, gặp duy nhất một trường hợp gặp tai biến tổn thương đáy bàng quang khi phẫu tích mặt trước trực tràng, bệnh nhân đã được khâu phục hồi lại thành bàng quang qua nội soi và không phải chuyển mổ mở, nhờ khả năng quan sát tốt các cấu trúc giải phẫu trong tiểu khung trong phẫu thuật nội soi.

Chuyển mổ mở có hai nguyên nhân chính dẫn tới chuyển mổ mở là do tai biến trong mổ và do khối u đã xâm lấn rộng xung quang. Cả 3 trường hợp chuyển mổ mở trong nghiên cứu của tác giả đều do nguyên nhân khối u xâm lấn rộng xung quanh không còn chỉ định phẫu thuật nội soi. Các nghiên cứu về tỷ lệ chuyển mổ mở trong phẫu thuật nội soi trực tràng cho kết quả thay đổi từ 0% đến 15%. Tuy vậy không nên coi chuyển mổ mở là một thất bại hoặc tai biến của phẫu thuật nội soi mà nên coi là việc làm để tránh tai biến, biến chứng và kéo dài cuộc mổ đem lại kết quả không có lợi cho bệnh nhân.
Kết quả sớm sau mổ: Thời gian có nhu động ruột trở lại sau mổ: Trong nghiên cứu của tác giả, thời gian có nhu động ruột tính chung là 2,2 + 0,9 ngày. Các nghiên cứu so sánh thời gian có nhu động ruột trở lại của phẫu thuật nội soi và mổ mở trong UTTT đều cho kết quả thời gian có nhu động ruột trở lại của phẫu thuật nội soi ít hơn có ý nghĩa thống kê. Đây cũng chính là một trong các ưu điểm của phẫu thuật nội soi ổ bụng nói chung.
Thời gian dùng thuốc giảm đau: Cùng với thời gian có lại nhu động ruột ngắn, thời gian dùng thuốc giảm đau ngắn cũng là một ưu điểm của phẫu thuật nội soi. Trong phẫu thuật nội soi UTTT, bệnh nhân ít đau hơn so với mổ mở do vết mổ đặt trocar và vết mổ lấy bệnh phẩm ngắn. Trong nghiên cứu của tác giả thời gian dùng thuốc giảm đau chung cho 46 bệnh nhân là 3,4 + 0,9 ngày. Kết quả này tương đồng với kết quả do tác giả Zhou Z.G. và cộng sự (3,9 ngày), thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm mổ mở.
Thời gian rút sonde tiểu sau mổ: Trong phẫu thuật UTTT, ngoài việc cắt rộng rãi khối u vào nạo vét hệ thống hạch vùng để đảm bảo nguyên tắc về mặt ung thư học thì việc bảo tồn tối đa thần kinh hạ vị dưới để tránh suy giảm chức năng tiết niệu, sinh dục cũng là vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sống của bệnh nhân sau mổ. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy 76,1% bệnh nhân được rút ống thông tiểu trong vòng 3 ngày sau mổ, thời gian trung bình rút ống thông tiểu là 3,3 ngày, tương đương với các tác giả khác. Khi so sánh giữa thời gian rút ống thông tiểu sau phẫu thuật UTTT bằng hai phương pháp phẫu thuật nội soi và mổ mở kinh điển, các tác giả Stamopoulos P. và Lim R.S. đều đi đến kết luận chức năng tiết niệu sau mổ tốt hơn ở nhóm bệnh nhân được phẫu thuật nội soi.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, phẫu thuật nội soi là phương pháp ngoại khoa hiệu quả, an toàn trong điều trị bệnh nhân ung thư trực tràng thấp đã được hóa xạ trị tiền phẫu với thời gian mổ trung bình 139,7 + 29,6 (phút). Tai biến trong mổ thấp 2%, tỷ lệ chuyển mổ mở 6%, thời gian có nhu động ruột 2,2 + 0,9 (ngày), thời gian dùng thuốc giảm đau 3,4 + 0,9 (ngày), thời gian hậu phẫu là 8,6 + 2,2 ngày. Biến chứng sau mổ 8,7%, không có tử vong sau mổ. Tuy nhiên cần nghiên cứu dài hơn để đánh giá kết quả ung thư học.
Anh Duy