[Đăng ngày: 13/12/2018]
Viêm tụy cấp (VTC) là bệnh tổn thương viêm nhu mô tuyến tụy cấp tính từ nhẹ đến nặng và có thể gây tử vong. VTC nặng, ngay sau quá trình khởi phát, hội chứng đáp ứng viêm hệ thống được khởi động với vai trò của các cytokine và các chất trung gian hóa học khác của quá trình viêm. 

Một đáp ứng viêm dữ dội toàn cơ thể là yếu tố chủ yếu dẫn tới hội chứng suy đa tạng rất nặng trên lâm sàng. Diễn biến nặng của VTC rất nhanh và khó tiên lượng vì vậy việc đánh giá mức độ VTC sớm là cần thiết để giúp thầy thuốc đưa ra biện pháp điều trị tích cực nhằm hạn chế tiến triển xấu và biến chứng nặng của bệnh.

Chụp cắt lớp vi tính ra đời đã giúp ích rất nhiều trong chẩn đoán VTC. Đặc biệt, với độ phân giải cao, khả năng cắt khối và dựng hình rõ nét, chụp cắt lớp vi tính 320 lát cắt (CLVT 320) có thể phát hiện sớm những ổ hoại tử nhỏ khi mới bắt đầu hình thành giúp cho chẩn đoán kịp thời, tiên lượng chính xác và điều trị hiệu quả. Nhóm tác giả nghiên cứu Dương Minh Thắng cùng cộng sự bệnh viện Trung Ương 108 thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính 320 lát cắt trong chẩn đoán viêm tụy cấp” nhằm mục tiêu: Tìm hiểu giá trị của hình ảnh chụp cắt lớp vi tính 320 lát cắt trong chẩn đoán viêm tụy cấp.

Về đối tượng và phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu gồm 59 bệnh nhân được chẩn đoán xác định VTC bằng khám lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng và chụp cắt lớp vi tính 320 phân loại mức độ theo Balthazar, điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong thời gian từ tháng 07 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017.

Về đặc điểm lâm sàng, tác giả Dương Minh Thắng phân tích báo cáo, tuổi trung bình là 48,07 + 14,96. Độ tuổi mắc VTC nhiều nhất là từ 30-49 chiếm 54,2%. Tỷ lệ nam/nữ là 3,5. Kết quả nghiên cứu này tương tự kết quả của Trần Công Hoan năm 2008 với tuổi trung bình là 48, của Mortele năm 2004 là 49,2. Nếu tính riêng về giới thì tuổi trung bình của nam thấp hơn tuổi trung bình của nữ, nam từ  30-49 chiếm 63%, trong khi đó nữ trên 70, chiếm 46,1%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Điều này có thể lý giải do nguyên nhân gây VTC ở 2 nhóm nam và nữ khác nhau, nguyên nhân gây VTC ở nam do rượu chiếm tỷ lệ cao trong khi nguyên nhân gây VTC ở nữ do yếu tố cơ học và rối loạn chuyển hóa lipid lại cao hơn, và những nguyên nhân này thường gặp ở nhóm bệnh nhân có độ tuổi cao.

VTC do rượu, bia chiếm tỷ lệ cao nhất (49,2%), sau đó là tăng triglyceride máu 33,9%, sỏi mật 30,5%, u đầu tụy 3,4%, giun chui ống mật chủ chỉ có 1,7%.

Đau bụng gặp ở 100% bệnh nhân VTC. Tỷ lệ này khá giống với các kết quả của Trần Công Hoan, Mergener đều gặp dấu hiệu đau bụng trên 90%. Trong nghiên cứu bệnh nhân VTC đau vùng thượng vị chiếm tỷ lệ cao nhất (72,9%), đau quanh rốn 50,9% và hạ sườn trái 54,2%. Có 79,6% bệnh nhân có cảm giác buồn nôn và 55,9% bệnh nhân có triệu chứng nôn. Nghiên cứu của Trần Công Hoan có 73,1% bệnh nhân có biểu hiện buồn nôn và nôn, theo Ranson và cộng sự là 54,92%. Chướng bụng gặp với tỷ lệ cao, 94,9%; bí trung tiện là 45,7%.

Triệu chứng thực thể hay gặp nhất là dấu hiệu Mayo-robson (+) 76,3%, phản ứng thành bụng 55,9%, cảm ứng phúc mạc 33,9%. Các dấu hiệu đặc biệt của VTC như (dấu hiệu Cullen: vết hoặc mảng bầm tím dưới da vùng quanh rốn, dấu hiệu Grey-Turner: vết xanh tím vùng mạn sườn trái và hông trái) xuất hiện với tỷ lệ thấp, tương ứng là 6,8% và 3,4%, nghiên cứu của Trần Công Hoan các dấu hiệu này chỉ gặp 8,4%. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy không có bệnh nhân nào có dấu hiệu sốc hoặc trụy mạch, 46,5% bệnh nhân có sốt nhẹ (trên 37,5 độ). Không có bệnh nhân nào hôn mê.

Đặc điểm xét nghiệm cận lâm sàng. Tất cả các bệnh nhân nghiên cứu đều được làm amylase máu, giá trị trung bình là 684,2U/L và có sự dao động khá lớn giữa các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu, amylase máu lớn nhất là 3193U/L, thấp nhất là 19U/L. Tỷ lệ bệnh nhân có amylase máu lớn hơn 3 lần giá trị bình thường chiếm 57,6%. Kết quả này khá phù hợp với nghiên cứu của Hoàng Đức Chuyên về VTC do tăng triglyceride, tăng amylase > 3 lần là 52%. Về lipid máu, cho thấy có 64,4% bệnh nhân VTC có rối loạn tăng triglyceride trong đó 25,4% số bệnh nhân có tăng triglyceride mức độ nặng (>10mmol/l). Kết quả xét nghiệm huyết học được thể hiện qua bảng 6. Số lượng hồng cầu trung bình là 4,52T/L, chỉ có một số bệnh nhân thiếu máu nhẹ. Tỷ lệ Hematocrit trung bình là 41,39%. Trong VTC nhất là thể hoại tử nặng gặp tình trạng máu cô do sự mất nước, thoát mạch của tình trạng viêm cấp, mức độ nặng. Bạch cầu trung bình là 15,51G/L, cao nhất là 36,4G/L.

BS Dương Minh Thắng có kết luận, đau bụng gặp ở 100% bệnh nhân VTC. Triệu chứng thực thể hay gặp nhất là dấu hiệu Mayo-robson (+) 76,3%. Amylase và lypase máu tăng có giá trị chẩn đoán (> 3 lần bình thường) là 57,6% và 74%. Tỷ lệ bệnh nhân tăng triglyceride mức độ nặng (>10mmol/l) là 25,4%.

CLVT 320 phát hiện 100% tụy có tổn thương trong đó tụy to là 88,1%, hoại tử là 47,5%. Có mối liên quan tỷ lệ thuận giữa mức độ tổn thương, tình trạng bờ tụy với mức độ hoại tử với p<0,001. CLVT 320 giúp chẩn đoán sớm hoại tử với kích thước nhỏ, giúp chẩn đoán xác định những bệnh nhân lâm sàng và xét nghiệm không điển hình. Biến chứng hay gặp nhất là nang giả tụy 11,9%.
Hữu Lai

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 55

Số lượt truy cập: 9352842

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang