[Đăng ngày: 12/10/2017]
Hoạt động chuyển tuyến bao gồm việc tổ chức, thực hiện việc chuyển tuyến người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và quản lý thông tin chuyển tuyến người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Chuyển tuyến là việc chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc các tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế.

Việc chuyển tuyến người bệnh là việc thường xuyên diễn ra hàng ngày tại các cơ sở khám chữa bệnh. Đối với quản lý thông tin chuyển tuyến, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện qua ghi chép, tổng hợp, thống kê các trường hợp chuyển tuyến. Tại các bệnh viện trung ương, Trung tâm đào tạo chỉ đạo tuyến hoặc các phòng chỉ đạo tuyến của bệnh viện đã duy trì thực hiện việc tổng hợp báo cáo, thông tin 2 chiều với các bệnh viện tuyến dưới, đặc biệt phản hồi thông tin người bệnh đối với các trường hợp có sai sót chuyên môn cần rút kinh nghiệm. Báo cáo của Cục Quản lý khám chữa bệnh Bộ Y tế năm 2014 cho thấy tỷ lệ chuyển tuyến từ tuyến dưới lên tuyến trên năm 2013 so với năm 2012 giảm; đặc biệt tỷ lệ này giảm rõ đối với những bệnh viện và chuyên khoa trong Đề án Bệnh viện vệ tinh; có 37,5% số bệnh viện trong Đề án Bệnh viện vệ tinh đang có xu hướng giảm tỷ lệ chuyển tuyến.

Nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thế Hiền, Lê Hoàng Hạnh trường Đại học Trà Vinh, bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang tiến hành báo cáo nghiên cứu đề tài cắt ngang “Đặc điểm dịch tễ học các bệnh lý răng hàm mặt chuyển tuyến tại bệnh viện đa khoa Tiền Giang từ năm 2014-2016”. Tiêu chuẩn chọn mẫu của nghiên cứu là những bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện đa khoa Tiền Giang được chuyển tuyến lần đầu từ 01/01/2014 đến 30/9/2016. Các bệnh nhân được chuyển tuyến trên để tái khám không được chọn vào nghiên cứu.

Tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích cho biết, tỷ lệ chuyển tuyến là 2,77% (750/27.103  trường hợp) trong đó nội trú là 263 trường hợp (11,18%); ngoại trú là 487/24.750 (1,9%) trường hợp chiếm 37,3%; năm 2014 chỉ có 183 trường hợp. Về giới tính bệnh nhân nam chiếm đa số với 72%; nhóm 20-29 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (23,5%); nhóm 60-69 tuổi chỉ chiếm tỷ lệ 1,8%. Về nghề nghiệp, lao động chân tay chiếm đến 62,3%; nhóm trẻ em từ 0-19 tuổi chiếm 17,6%. Có 72,9% đối tượng nghiên cứu chuyển tuyến có tham gia bảo hiểm y tế; 27,1% không tham gia bảo hiểm y tế. Đa số đối tượng nghiên cứu đến từ khu vực nông thôn với tỷ lệ 77%; có 57,6% đối tượng nghiên cứu điều trị ngoại trú được chuyển tuyến; 42,4% điều trị nội trú chuyển tuyến.

Tác giả nghiên cứu phân loại bệnh lý răng hàm mặt được chuyển tuyến thành 6 nhóm; nhóm chấn thương vùng hàm mặt chiếm tỷ lệ cao nhất với 52,9%; tiếp theo là nhóm u, nang vùng hàm mặt 35,2%; nhóm loạn năng khớp thái dương hàm chiếm tỷ lệ chuyển tuyến thấp nhất là 0,6%; còn lại là các nhóm viêm nhiễm, dị tật bẩm sinh, bệnh lý về răng, cần nhổ răng. Đối với vị trí chấn thương, gãy xương; gãy hàm gò má chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,5%; gãy cung tiếp 37,5%; lồi cầu 30,8%; cằm 30,2%.

Tác giả nghiên cứu cho biết, các bệnh viện chuyển tuyến gồm bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương thành phố Hồ Chí Minh; bệnh viện Ung bướu TP.Hồ Chí Minh; bệnh viện Nhi đồng, bệnh viện Mắt Tiền Giang, bệnh viện Chợ Rẫy, trong đó bệnh viện Răng Hàm Mặt TP.Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ cao nhất với 69%. Thời gian nằm viện bệnh nhân điều trị nội trú, trong số 263 trường hợp có 26,6% nằm viện 2 ngày; 19% nằm viện 1 ngày; 19,4% nằm viện 3 ngày. Thời gian nằm viện trung bình là 3,11 ngày. Phan tích về lý do chuyển tuyến, có 366 trường hợp vượt quá khả năng chiếm tỷ lệ 59%; còn lại lý do chuyển là do phân tuyến kỹ thuật hoặc do bệnh lý kèm theo. Tác giả nghiên cứu lưu ý có những bệnh nhân được chuyển đi trong tình trạng bệnh rất nặng, vì vậy cần củng cố, xây dựng tuyến trước mạnh, vững vàng để xử lý những trường hợp nặng này. 

Tác giả nghiên cứu có nhận xét, năm 2015, đối tượng nghiên cứu có tham gia bảo hiểm y tế ở khu vực nông thôn được chuyển tuyến nhiều nhất; bệnh nhân hài lòng công tác khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đối với chuyên khoa Răng Hàm Mặt và mong muốn tiếp tục sử dụng bảo hiểm y tế là 92%. Các cán bộ quản lý y tế cho rằng cần tăng thêm danh mục kỹ thuật, nghiên cứu chỉnh sửa giá dịch vụ y tế và đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ y tế nhiều hơn. Thực tế hiện nay do việc phân bố bác sĩ ở các tỉnh, thành phố phía nam không hợp lý, bác sĩ tập trung nhiều ở khu vực TP Hồ Chí Minh; bác sĩ mới tốt nghiệp không muốn về công tác tại bệnh viện tuyến huyện vì thu nhập thấp, thiếu trang thiết bị nha khoa.

Đối với các bệnh lý kèm như gãy xương, vị trí u nang trong nghiên cứu tác giả lưu ý tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao. Tác giả nghiên cứu khuyến nghị cần có sự gắn kết giữa các tuyến y tế trong hoạt động chuyển tuyến, hỗ trợ sử dụng hiệu quả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, hỗ trợ nâng cao năng lực, tăng cường cho tuyến dưới tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc kỹ thuật tốt hơn.
Văn Hanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 241

Số lượt truy cập: 9291094

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang