Theo các chuyên gia phụ sản, từ khi sinh ra tới trước khi dậy thì, buồng trứng bé gái chỉ chứa toàn noãn bào 1. Khi đến tuổi dậy thì, sau khi có đỉnh LH vào mỗi chu kỳ kinh, noãn bào 1 chứa trong nang trứng chín (Degraff) mới bắt đầu quá trình trưởng thành, bao gồm sự trưởng thành về nhân và bào quan noãn.
.png)
Sự trưởng thành về nhân đánh dấu bằng việc noãn bào 1 hình thành lần phân chia thứ nhất của quá trình giảm phân, bộ nhiễm sắc thể được chia đôi, kết quả sinh ra 2 tế bào chứa bộ nhiễm sắc thể đơn bội: 1 lớn chứa phần lớn bào tương và toàn bộ bào quang có chức năng sinh dục, 1 nhỏ gọi là thể cực thứ nhất; noãn này là noãn 2 hay noãn MII.
Sự trưởng thành của bào quan thể hiện trong việc thay đổi và sắp xếp lại của một số bào quan trong bào tương noãn như bộ khung tế bào, lớp hạt vỏ, lưới nội bào; tổng hợp và điều chỉnh protein và ARN thông tin, tái hoạt hóa các phản ứng hóa sinh và phản ứng phân tử nhằm cung cấp chất liệu cần thiết cho sự thụ tinh, sự phát triển và làm tổ của phôi. Sự trưởng thành về nhân và bào quan phải diễn ra đồng bộ mới đảm bảo khả năng thụ tinh của noãn và sự phát triển của phôi sau này.
Đánh giá sự trưởng thành; chất lượng noãn là yếu tố cơ bản để thực hiện tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI). Đánh giá noãn MII trước khi ICSI còn giúp tiên lượng sự phát triển của phôi sau này. Các yếu tố để đánh giá là các dạng của hình thái và kích thước noãn, màu sắc và độ đồng nhất của bào tương, độ rộng khoảng quanh noãn, hạt trong khoảng quanh noãn, chiều dày và màu sắc màng trong suốt; cực cầu 1, không bào và lưới nội bào không hạt.
Từ tháng 12/2015 đến tháng 7/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hà cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Hội, Khoa Hỗ trợ Sinh sản Bệnh viện Phụ sản Hà Nội tiến hành nghiên cứu mô tả không can thiệp, báo cáo đề tài “Đặc điểm hình thái noãn MII sau kích thích buồng trứng bằng phác đồ Antagonist”. Tác giả nghiên cứu cho biết, đối tượng nghiên cứu là noãn MII của bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm được kích thích buồng trứng bằng phác đồ antagonist. Phương pháp nghiên cứu là bệnh nhân được kích thích buồng trứng từ ngày 2 của chu kỳ kinh theo phác đồ antagonist. Theo dõi sự phát triển của nang noãn trên siêu âm và xét nghiệm FSH, LH, E 2, P4. Tiến hành chọc hút noãn sau tiêm HCG 36 giờ. Noãn được lấy ra theo đường âm đạo dưới chỉ dẫn của siêu âm. Sau khi thu nhận, noãn được nuôi trong đĩa Nunc 4 giếng chứa môi trường G-IVF trong tủ cấy CO2 6%, nhiệt độ 37 độ C. Các tế bào nang được tách khỏi noãn sau khi chọc hút noãn 2,5- 3 giờ bằng kim tách noãn có đường kích 120 µm. Xoay noãn sao cho cực thứ nhất ở vị trí 6 giờ hoặc 12 giờ. Tiến hành chụp ảnh noãn MII bằng camera của kính hiển vi đảo ngược ở vật kính 20 X. Đo kích thước noãn trên hình ảnh bằng phần mềm Autocad; độ dày màng trong suốt là khi độ dày đồng đều đo 1 vị trí; nếu độ dày không đồng đều đo đoạn màng trong suốt dày nhất và đoạn màng mỏng nhất, lấy lại giá trị trung bình. Về tiêu chuẩn đánh giá hình thái noãn dựa vào “Đồng thuận đánh giá và phân loại noãn, phôi trong hỗ trợ sinh sản” của Chi hội Y học Sinh sản Việt Nam (VSRM) năm 2012.
BS.Nguyễn Mạnh Hà phân tích báo cáo, có 414 noãn MII, kích thước trung bình của màng trong suốt là 16,6 µm; tuy nhiên giá trị dao động khá lớn, màng trong suốt mỏng nhất là 8 µm; dày nhất là 30 µm. Chiều rộng khoảng quanh noãn trung bình là 14,7 µm. Đường kính noãn trung bình là 107,1 µm; noãn lớn nhất có đường kính 131 µm; nhỏ nhất là 98 µm. BS.Hà cho biết, hình thái màng trong suốt thường tương đồng giữa các noãn trên cùng 1 bệnh nhân, đặc biệt trong các trường hợp màng rất dày, sẫm màu. Độ dày màng trong suốt có liên quan đến độ tuổi càng cao thì độ dày màng trong suốt càng giảm. Tác giả nghiên cứu cho biết, độ rộng của khoảng quanh noãn có liên quan đến mức độ trưởng thành của noãn. Khoảng quanh noãn thường hẹp khi noãn ở giai đoạn noãn bào 1, bắt đầu mở rộng khi noãn hoàn thành giảm phân 1 và đạt đủ kích thước ở noãn chính.
Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý trong quá trình phát triển noãn bào tăng kích thước từ 30 µm đến 120 µm do sự tích lũy protein, tăng sinh và biến đổi bào quan. Các nghiên cứu trên thế giới cũng có kết quả, nồng độ estradiol trên noãn và kích thước nang trứng lớn nhất vào ngày tiêm HCG; cao hơn có ý nghĩa thống kê đối với những bệnh nhân có xuất hiện lưới nội bào không hạt trong noãn so với những bệnh nhân không xuất hiện lưới nội bào.
Tác giả nghiên cứu kết luận, nghiên cứu đã đo được các kích thước trung bình của noãn MII. Màng trong suốt có độ dày vừa phải và màu sắc bình thường chiếm 61,2%; khoảng quanh noãn bình thường không hạt chiếm 56%; thể cực thứ nhất nguyên vẹn kích thước bình thường chiếm 33%; bào tương mịn sáng màu chiếm 18,4%, xuất hiện thể vùi 9,2%; không bào 3%.
Hữu Cao