Nhiễm khuẩn Bệnh viện là một vấn đề rất quan tâm hiện nay. Có nhiều nghiên cứu cho thấy nhiễm khuẩn Bệnh viện làm tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện, tăng việc sử dụng kháng sinh,tăng đề kháng kháng sinh và tăng chi phí cho điều trị. Một nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2013 tại khoa Hồi sức tích cực, cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn Bệnh viện đến 30%. Việc gia tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn Bệnh viện là một thách thức cho nhân viên y tế trực tiếp điều trị chăm sóc người bệnh.
Từ tháng 2/2016 đến tháng 5/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Chi cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai, Trường Đại học Thăng Long, tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang đề tài “Nghiên cứu thực trạng nhiễm khuẩn Bệnh viện ở bệnh nhân thở máy tại khoa Hồi sức cấp cứu và các yếu tố nguy cơ liên quan”. Đối tượng nghiên cứu là 102 bệnh nhân tại khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương; Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai trên 48 giờ, có chỉ định đặt nội khí quản hoặc mở khí quản thở máy. Tiêu chuẩn loại trừ là bệnh nhân bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trước khi nhập viện.
Tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích, nam giới có tỷ lệ 68,6% cao hơn so với nữ giới 31,4%. Bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm phần lớn đối tượng nghiên cứu với 39,9%; nhóm 40 – 60 tuổi chiếm 35,2%; nhóm 20 – 40 tuổi chiếm 25,5%. Như vậy tuổi càng cao nguy cơ nhiễm khuẩn Bệnh viện càng cao.
Về đặc điểm vi khuẩn học nuôi cấy ở bệnh nhân nhiễm khuẩn Bệnh viện, trong số 18 bệnh nhân nhiễm khuẩn Bệnh viện đều nuôi cấy đàm dương tính với vi khuẩn. A.baumanii là vi khuẩn số 1 gây nhiễm khuẩn Bệnh viện hiện nay tại các Bệnh viện; vi khuẩn này cũng là vi khuẩn đề kháng kháng sinh rất cao, đặc biệt đối với những bệnh nhân đang thở máy. Số còn lại là các nhóm vi khuẩn C.indologenes, K.pneumoniae, P.aeruginosa đều có tỷ lệ tương tự là 11%. Tác giả giải thích do các loại vi khuẩn gây nhiễm khuẩn Bệnh viện ngày càng nhiều đa dạng, là một sự cảnh báo cho cán bộ y tế và cũng là thách thức trong công tác điều trị chăm sóc người bệnh đang thở máy.

Đối với tỷ lệ nhiễm khuẩn Bệnh viện ở bệnh nhân thở máy, kết quả nghiên cứu cho thấy có 17,6% bệnh nhân bị nhiễm khuẩn Bệnh viện; tác giả nghiên cứu nhận xét tình trạng nhiễm khuẩn Bệnh viện tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện trong nghiên cứu có nguy cơ cao mặc dù công tác kiểm soát nhiễm khuẩn đã được thực hiện áp dụng và kiểm tra gắt gao, chặt chẽ. Đối với các yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn Bệnh viện trên bệnh nhân thở máy, tác giả nghiên cứu báo cáo có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa có rửa tay trước khi chăm sóc và sau khi chăm sóc bệnh nhân thở máy với nhiễm khuẩn Bệnh viện; Tỷ lệ điều dưỡng có rửa tay trước và sau khi thực hiện chăm sóc bệnh nhân thì tỷ lệ nhiễm khuẩn Bệnh viện thấp hơn; chỉ có 6,8% so với những điều dưỡng chỉ rửa tay sau khi chăm sóc bệnh nhân chiếm tới 10,9%.
Tác giả nghiên cứu nhấn mạnh, khi rửa tay sẽ giúp loại bỏ vi khuẩn trên bàn tay vì bàn tay là nơi trú ngụ của vi khuẩn vãng lai và cả vi khuẩn gây bệnh. Rửa tay của nhân viên y tế trước và sau khi thực hiện thăm khám, chăm sóc bệnh nhân sẽ giúp bàn tay sạch không còn vi khuẩn, đây là khâu quan trọng để giúp giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn Bệnh viện.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, bệnh nhân bị nhiễm khuẩn Bệnh viện có số ngày thở máy trung bình 10,4; bệnh nhân không nhiễm khuẩn Bệnh viện là 7,3 ngày (p < 0,05). Như vậy bệnh nhân thở máy số ngày trên 1 tuần có nguy cơ nhiễm khuẩn Bệnh viện càng cao; khi tham gia thở máy dưới 1 tuần thì nguy cơ nhiễm khuẩn Bệnh viện giảm. Đối với bệnh nhân nhiễm khuẩn Bệnh viện có số lần hút đàm trung bình là 13,6 cao hơn so với bệnh nhân không nhiễm khuẩn Bệnh viện có số lần hút đàm trung bình là 9,6 (p < 0,05). Như vậy bệnh nhân có số lần hút đàm càng nhiều, nguy cơ nhiễm khuẩn Bệnh viện càng tăng cao do trong quá trình thực hiện các thủ thuật xâm lấn bởi trong quá trình thực hiện hút đàm luôn kèm theo nguy cơ đưa vi khuẩn vào cơ thể người bệnh hoặc có thể sai sót như để áp lực quá cao hoặc nhân viên y tế chưa thực hiện vô khuẩn trong quá trình hút.
Đối với liên quan giữa chăm sóc hệ thống dây dẫn trong thở máy với nhiễm khuẩn Bệnh viện; có sự khác biệt giữa số lần chăm sóc hệ thống dây máy thở, bẫy nước bình làm ẩm với nhiễm khuẩn Bệnh viện (p < 0,01). Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn Bệnh viện ở bệnh nhân có số lần chăm sóc hệ thống dây dẫn dưới 2lần/ngày có tỷ suất chênh 5,4 lần so với bệnh nhân được chăm sóc hệ thống dây dẫn > 2lần/ngày. Giải thích điều này tác giả cho rằng, do hệ thống dây thở của máy và bộ phận làm ẩm là nơi luôn chứa vi khuẩn. Nước đọng ở bẫy nước và đường ống dẫn tạo điều kiện phát triển cho vi khuẩn; vì vậy phải theo dõi, vệ sinh hệ thống dây dẫn để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn Bệnh viện. Đối với chăm sóc ống nội khí quản như vệ sinh ống, thay dây cố định, thay băng vết mổ khí quản nhỏ hơn 2lần/ngày và > 2lần/ngày với nhiễm khuẩn Bệnh viện, tỷ suất chênh là 3,6 lần (p < 0,05); tương tự đối với chăm sóc răng miệng, mũi mắt với nhiễm khuẩn Bệnh viện kết quả có ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Minh Tâm