[Đăng ngày: 25/09/2017]
Theo các chuyên gia ung thư, xạ trị là vũ khí chính để điều trị ung thư vòm họng.

Ung thư vòm mũi họng ở giai đoạn sớm 1, 2 có thể được điều trị triệt căn bằng xạ trị đơn thuần. Tuy nhiên, trong ung thư vòm mũi họng giai đoạn 2, phân nhóm 2a và 2b có tiên lượng bệnh rất khác nhau về kết quả điều trị. Giai đoạn 2b (T1-2aN1Mo hoặc T2bN0N1M0) có T2b xâm lấn gần hầu và N1 di căn hạch cổ là 2 yếu tố nguy cơ quan trọng của di căn xa. Các kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian sống thêm của các bệnh nhân có T2b và/hoặc N1 thấp hơn đáng kể so với các bệnh nhân khác ở cùng phân nhóm; Vì vậy các tác giả nghiên cứu cho rằng cần kết hợp thêm hóa trị cho những bệnh nhân ung thư vòm mũi họng giai đoạn này.

Theo Hội ung thư Mỹ (NCCN), hóa xạ trị đồng thời với Cisplatin mỗi 3 tuần hoặc hàng tuần được chỉ định như là một phác đồ điều trị chuẩn cho ung thư vòm mũi họng ở giai đoạn tiến triển tại chỗ, tại vùng (2b – 4b) và đã có các so sánh về hiệu quả, độc tính của 2 phác đồ. Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu được chọn nghiên cứu thường là bệnh nhân ung thư vòm họng giai đoạn 3b, 4b; đối với ung thư giai đoạn 2b ít báo cáo. Từ tháng 1/2013 đến tháng 8/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Thị Kim Phượng cùng cộng sự Trường Đại học Y dược Thái Nguyên, Khoa xạ và Khoa giải phẫu bệnh, Bệnh viện K, tiến hành nghiên cứu can thiệp lâm sàng không ngẫu nhiên có đối chứng, báo cáo đề tài nghiên cứu “So sánh đáp ứng và độc tính cấp của phác đồ Cisplatin hàng tuần và mỗi 3 tuần trong hóa xạ trị đồng thời ung thư vòm mũi họng giai đoạn 2b”. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân tuổi dưới 70; được chẩn đoán mô bệnh học tại u hoặc hạch cổ, chẩn đoán và điều trị lần đầu, nhóm nghiên cứu giải thích cho đối tượng nghiên cứu rõ liệu trình điều trị và đối tượng nghiên cứu tự nguyện tham gia nghiên cứu. Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào các triệu chứng lâm sàng, nội soi vòm họng, xét nghiệm mô bệnh học tại vòm hoặc tại hạch; chẩn đoán TNM và phân loại giai đoạn bệnh theo UICC 2002.

BS Trần Thị Kim Phượng phân tích, báo cáo, có 62 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, chia 2 nhóm 32 bệnh nhân điều trị phác đồ Cisplatin hàng tuần, 30 bệnh nhân điều trị phác đồ Cisplatin mỗi 3 tuần. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu của 2 nhóm là 46,3 và 50,6. Các yếu tố về giới tính, toàn trạng, giai đoạn bệnh, mô bệnh học của 2 nhóm khá tương đồng, không có sự khác biệt (p>0,05).
Đối với việc thực hiện liệu trình, đối với nhóm hóa xạ trị đồng thời hàng tuần có 2 bệnh nhân giảm liều xạ và 4 bệnh nhân không thực hiện đủ 6 tuần hóa chất; so với nhóm hóa xạ trị đồng thời mỗi 3 tuần có 3 bệnh nhân giảm liều xạ; 6 bệnh nhân không điều trị đủ 3 lần hóa chất. Tỷ lệ trì hoãn điều trị > 2 tuần cao hơn ở nhóm hóa xạ trị đồng thời mỗi 3 tuần, cụ thể là 46,7% so với 28%. Tác giả nghiên cứu cho rằng, do với phác đồ hóa xạ trị đồng thời mỗi 3 tuần, liều tích lũy Cisplatin/m2 là 300mg cao hơn so với hóa xạ trị đồng thời hàng tuần (Cisplatin180mg/m2) nên độc tính cấp dường như cao hơn, dẫn đến việc giảm liều cũng như kéo dài thời gian điều trị cho phù hợp với sự dung nạp của bệnh nhân. Tác giả cho biết, qua nhiều nghiên cứu khác nhau của các tác giả trong và ngoài nước, số ngày hóa trị tham gia cũng là một yếu tố có giá trị tiên lượng độc lập, ảnh hưởng đến thời gian sống thêm của bệnh nhân.

BS Phượng cho biết, trong nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu ở giai đoạn 2b nên tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn của liệu trình cao hơn, tuy nhiên không có sự khác biệt của 2 nhóm (88,5% so với 83,3%). Về các độc tính cấp thường gặp trên huyết học, các nghiên cứu đều báo cáo tỷ lệ độc tính và mức độ độc tính của 2 phác đồ là ngang nhau, đó là thiếu máu, hạ bạch cầu độ > 3; Trong nghiên cứu, BS Phượng cho biết tỷ lệ độc tính huyết học > 3 ở nhóm hóa chất hàng tuần thấp hơn so với nhóm hóa xạ trị đồng thời 3 tuần, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ giảm bạch cầu và giảm bạch cầu hạt độ > 3 lần lượt là 12,5% so với 16,5%; 15,6% so với 20% (p>0,05).

BS Phượng lưu ý, một trong những nguyên nhân khiến bệnh nhân phải kéo dài thời gian điều trị còn do gặp phải vấn đề độc tính ảnh hưởng lên da và niêm mạc. Có 100% đối tượng nghiên cứu có tác dụng phụ trên da và niêm mạc; đặc biệt nặng hơn đối với nhóm hóa xạ trị đồng thời mỗi 3 tuần với tỷ lệ viêm da và niêm mạc độ > 3 là 26,7% và 36,7% so với 21,8% và 21,8%(p>0,05). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độc tính gây nôn của hóa chất hàng tuần và mỗi 3 tuần; mức độ nôn độ 2, độ 3 (p < 0,05).

Tác giả nghiên cứu cũng cho biết hạn chế của nghiên cứu là sự chọn mẫu không ngẫu nhiên, chưa có được kết quả lâu dài về thời gian sống thêm và đánh giá các độc tính mạn cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Tác giả nghiên cứu có kết luận, so sánh kết quả điều trị của hóa xạ trị đồng thời dựa trên Cisplatin hàng tuần và mỗi 3 tuần trên bệnh nhân ung thư vòm họng giai đoạn 2b, kết quả phác đồ cho tỷ lệ đáp ứng điều trị ban đầu là tương đương; mặc dù chưa có sự khẳng định nhưng hóa xạ trị đồng thời với Cisplatin hàng tuần có thể phù hợp hơn đối với bệnh nhân về phương diện làm giảm độ độc tính và giảm sự trì hoãn thời gian điều trị do các độc tính cấp. Tác giả cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu thêm để có kết luận về cách thức phối hợp hiệu quả, dung nạp tốt hơn, theo dõi thời gian sống thêm, các độc tính mạn, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau điều trị.
 Nguyên Khải

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 121

Số lượt truy cập: 9349087

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang