[Đăng ngày: 15/09/2017]
Ung thư biểu mô tế bào gan có nhiều biến chứng như suy gan, chảy máu đường tiêu hóa, hội chứng Budd-ChIai, vỡ u.

Ung thư biểu mô tế bào gan vỡ là một biến chứng cấp tính, đòi hỏi xử trí cấp cứu, có tỷ lệ tử vong cao. Tỷ lệ u vỡ vào khoảng 6-14% số trường hợp u gan. Đây là nguyên nhân gây chảy máu gan không do chấn thương, xảy ra phổ biến ở nam giới. Điều trị ung thư biểu mô tế bào gan vỡ gồm điều trị bảo tồn, phẫu thuật và nút mạch đường động mạch. Điều trị bảo tồn áp dụng cho trường hợp huyết động ổn định, tuy nhiên có thể xảy ra chảy máu lại hoặc chảy máu tiếp diễn cao. Phương pháp phẫu thuật có tỷ lệ cầm máu cao (70-100%) nhưng sau đó bệnh nhân tử vong cũng cao khoảng 40-75%. Biện pháp nút mạch đường động mạch (Transarterial Embolization – TAE) là phương pháp hiệu quả, có tỷ lệ cầm máu cao, phương pháp này áp dụng phù hợp đối với bệnh nhân không thể phẫu thuật, tỷ lệ tử vong sau 30 ngày thấp hơn so với phương pháp phẫu thuật.

Từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Thanh Dũng cùng cộng sự Bệnh viện Việt Đức, Trường Đại học y Hà Nội tiến hành nghiên cứu mô tả hồi cứu cắt ngang, báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả nút mạch cầm máu cấp cứu ung thư biểu mô tế bào gan vỡ”. Đối tượng nghiên cứu là 22 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan vỡ, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) thấy hình ảnh u gan vỡ có chảy máu trong ổ bụng.

BS Dũng báo cáo phương pháp tiến hành chụp cắt lớp vi tính ổ bụng – tiểu khung gồm 3 thì, thì trước trên để đánh giá máu tụ, dịch máu, thì động mạch đánh giá thoát thuốc, thì tĩnh mạch cửa đánh giá tính chất thải thuốc của u, huyết khối tĩnh mạch cửa. 

Đánh giá hiệu quả nút mạch gồm vật liệu nút mạch, tỷ lệ thành công, cầm máu tức thời, tỷ lệ tử vong, số lượng máu truyền, các chỉ số xét nghiệm, đánh giá biến chứng sau nút mạch, tỷ lệ sống sau 1 tháng.

Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, trong 22 bệnh nhân có 16 bệnh nhân nam, 3 bệnh nhân nữ, độ tuổi từ 26-69, được chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan vỡ trên phim chụp cắt lớp vi tính, các bệnh nhân được chụp mạch và nút mạch cầm máu cấp cứu. Về đặc điểm khối u, BS Dũng cho biết kích thước lớn nhất khối u 83,95mm, có 9/22 bệnh nhân có huyết khối tĩnh mạch cửa, trong đó có 3 bệnh nhân tắc hoàn toàn nhánh tĩnh mạch cửa phân thùy trước; 4 bệnh nhân tắc nhánh phải tĩnh mạch cửa và 2 bệnh nhân tắc nhánh trái tĩnh mạch cửa. Trên phim chụp cắt lớp vi tính thấy có 14/22 trường hợp không phát hiện tổn thương mạch, có 6/22 trường hợp có thoát thuốc thì động mạch, 2/22 trường hợp có giả phình mạch.

BS Dũng cho biết, vật liệu nút mạch chủ yếu được sử dụng là Spongel cho 18/22 trường hợp, có kết hợp kèm hoặc không kèm với Lipiodol; có 4/22 trường hợp nút có dùng keo sinh học Histoacryl. Về hiệu quả điều trị, tỷ lệ nút mạch thành công về mặt kỹ thuật 22/22 trường hợp, không có trường hợp nào phải nút mạch lần 2. Tất cả bệnh nhân đều có huyết động ổn định sau can thiệp và không thấy chảy máu tái phát sau can thiệp lượng máu truyền trung bình là 969ml. Trong số 22 bệnh nhân, có 1 bệnh nhân tử vong trong vòng 1 tháng sau can thiệp; 7/22 bệnh nhân tử vong trong vòng 6 tháng sau can thiệp, trong số này có 6/7 bệnh nhân có huyết khối tĩnh mạch cửa. Các bệnh nhân can thiệp không có trường hợp có biến chứng sớm sau nút mạch như tụ máu vị trí chọc động mạch đùi, bóc tách thành mạch. Sau nút mạch các bệnh nhân có sốt thoáng qua, tăng men gan, hồi phục sau 1-2 tuần. Có một bệnh nhân suy gan tiến triển và tử vong trong vòng 1 tháng sau can thiệp.

BS Lê Thanh Dũng chia sẻ, chụp cắt lớp vi tính là phương pháp chẩn đoán hình ảnh có giá trị cao để chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan vỡ, khối u bắt thuốc mạnh thì động mạch và thải thuốc thì tĩnh mạch, khi khối u vỡ có thể phát hiện dễ dàng máu cục hoặc dịch máu tăng tỷ trọng tự nhiên. Về độ nhạy của dấu hiệu thoát thuốc thì động mạch thường không cao, nhưng độ đặc hiệu của dấu hiệu này là 100%. Một số trường hợp có thể có hình ảnh thoát thuốc trên cắt lớp vi tính nhưng không thấy được thoát thuốc DSA có thể lúc đó tổn thương chảy máu đã tự cầm, bác sĩ Dũng cho biết cần chụp thêm các nhánh động mạch mạc treo tràng trên, động mạch thận, động mạch dưới hoành để kiểm tra. Sau can thiệp cần chụp kiểm tra động mạch cấp máu cho gan.

Tác giả nghiên cứu cho biết theo Kung và cộng sự vật liệu nút mạch Gelatin (Spongel) kích thước 3x2x0,1cm cắt ra thành các mảnh nhỏ khoảng 0,5 đến 1mm, trộn đều trong 6ml thuốc cản quang, tùy theo tổn thương thoát thuốc, giả phình mạch kết hợp trộn thêm 2ml lipiodol, dùng coils với tổn thương thông động tĩnh mạch.

Trong nghiên cứu phần lớn trường hợp sử dụng Spongel, giúp làm tắc cuống mạch tạm thời, tự tiêu sau 2-4 tuần, nhờ đó có thể tiến hành nút mạch hóa chất các đợt tiếp theo. Keo sinh học Histoacryl là vật liệu nút tắc mạch vĩnh viễn, vì vậy nếu nút bằng keo sẽ không còn cuống mạch để thực hiện các lần sau nếu có. Trong nghiên cứu có 3 trường hợp dùng keo sinh học vì tổn thương thoát thuốc có kèm thông động tĩnh mạch, đồng thời các cuống mạch khó khăn trong cầm máu, vì vậy chọn keo Histoacryl là để đảm bảo cầm máu trong cấp cứu. 
Hồng Sơn
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 115

Số lượt truy cập: 9349393

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang