[Đăng ngày: 22/09/2017]
Theo báo cáo của Hội Ung thư Hoa Kỳ (American Cancer Society – ACS) năm 2009, tỷ lệ tử vong ung thư đại tràng đứng hàng thứ 2 ở nam giới, thứ 3 ở nữ giới. Đối với Việt Nam, ung thư đường tiêu hóa, ung thư đại tràng đứng hàng thứ 2 sau ung thư dạ dày.

Từ năm 1991, trên thế giới đã thực hiện phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày. Các nghiên cứu cho thấy lợi ích của phẫu thuật nội soi, giảm chấn thương phẫu thuật, giảm biến chứng hậu phẫu, thời gian hồi phục nhanh, sẹo mổ nhỏ, tỷ lệ sống còn tương tự phẫu thuật mổ mở, có kết quả tốt về mặt ung thư học, phẫu thuật cách ly không chạm, buộc mạch máu tận gốc, nạo vét hạch hiệu quả an toàn.

Từ tháng 11/2011 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Huỳnh Thanh Long cùng cộng sự Bệnh viện Nguyễn Tri Phương thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Quân Y, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu tiền cứu, cắt ngang mô tả đề tài “Kết quả sớm của phẫu thuật nội soi điều trị triệt căn ung thư đại tràng”. Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân trên 15 tuổi, chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến nguyên phát của đại tràng, điều trị tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Phẫu thuật nội soi cắt đại tràng áp dụng kỹ thuật phẫu tích từ trong ra và nạo hạch mức D3, áp dụng kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo đại tràng.

BS Long báo cáo, có 103 đối tượng nghiên cứu được chọn mời tham gia nghiên cứu, nam giới chiếm 54,4%. Độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu 59,61, trẻ nhất 18 tuổi, lớn nhất 85 tuổi. U ở đại tràng phải có 29 ca, đại tràng ngang 7 ca; đại tràng trái 18 ca; đại tràng sigma 49 ca. Có 16 ca ở giai đạn T4, 32 trường hợp giai đoạn T3; 47 trường hợp giai đoạn T2; 8 trường hợp giai đoạn T1. Tác giả báo cáo, tất cả trường hợp trong nghiên cứu diện cắt xa đều không còn tế bào ung thư về đại thể cũng như vi thể, chứng tỏ phẫu thuật nội soi đạt được tính triệt căn điều trị ung thư đại tràng.

BS Long cho biết, phẫu thuật nội soi ít xâm lấn, ít gây sang chấn thành bụng, đường mổ nhỏ nên sau mổ bệnh nhân ít đau hơn mổ mở, sau mổ bệnh nhân vận động, người sớm nhất là 1 ngày, trễ nhất là 4 ngày. Thời gian trung tiện trung bình đối tượng nghiên cứu là 1,54 ngày; thời gian xuất viện trung bình 7,45 ngày; người lâu nhất là 16 ngày; xuất viện sớm nhất là 4 ngày. Tác giả nghiên cứu lưu ý, việc cho bệnh nhân ăn sớm sau mổ là an toàn, giúp hệ tiêu hóa hoạt động sớm, nhu động ruột trở lại sớm hơn, miệng nối dễ liền hơn. Kết quả nghiên cứu đối tượng nghiên cứu có thời gian ăn sớm nhất là 2 ngày, chậm nhất là 4 ngày. Việc ăn sớm đường miệng không làm tăng biến chứng xì miệng nối, còn giúp sự liền vết thương nhanh hơn. Trong nghiên cứu có 71 trường hợp dẫn lưu xoang bụng, không có yếu tố liên quan với biến chứng sau mổ.

BS Long cho biết, thời gian mổ trung bình của nhóm nghiên cứu là 136,5  phút, trong đó thời gian mổ đại tràng phải là 143,64 phút; đại tràng trái là 133,14 phút. Thời gian ca mổ nhanh nhất là 80 phút, dài nhất là 220 phút. Những bệnh nhân có thời gian nằm viện hơn 8 ngày đều do có biến chứng sau mổ. Yếu tố nguy cơ đối tượng nghiên cứu có biến chứng sau mổ là tuổi, giới tính nam, suy dinh dưỡng, kinh nghiệm của bác sĩ mổ, máu mất, truyền máu trong mổ, thời gian mổ, bệnh nhân béo phì, tiền căn nhồi máu cơ tim, suy tim. BS Long chia sẻ, có một trường hợp tai biến trong mổ, bệnh nhân nam 42 tuổi, u đại tràng sigma to dính vào thành bụng, bàng quang; khi mổ bóc tách làm rách niệu quản, bác sĩ đã khâu lại niệu quản qua nội soi, đặt dẫn lưu JJ, hậu phẫu ổn định. Tác giả nghiên cứu lưu ý khả năng xảy ra tai biến trong mổ, tỷ lệ chuyển sang mổ mở phụ thuộc vào trọng lượng của người bệnh và mức độ xâm lấn của khối u. Trong nghiên cứu, có 8 trường hợp nhiễm trùng vết mổ, 1 trường hợp tắc ruột sớm sau mổ đã được mổ gỡ dính; không có trường hợp nào cần truyền máu do phẫu tích tỉ mỉ, đúng lớp dưới sự phóng đại của kính soi; tỷ lệ biến chứng thấp do vậy có thể triển khai cắt đại tràng nội soi thường quy trong mổ ung thư đại tràng. Với kỹ thuật phẫu tích từ trong ra ngoài có thể giúp bác sĩ nạo vét hạch đến tận gốc các bó mạch chính dễ dàng, giảm thiểu lượng mô bị cầm nắm trong quá trình mổ tìm cuống mạch, đạt được yêu cầu “cắt cách ly không chạm u”. Phẫu tích từ trong ra càng thuận lợi hơn cho việc quan sát với kính soi đặt ở trocar rốn. Việc bóc tách và cắt mạc treo thuận lợi, ít thời gian nhờ sử dụng dao cắt đốt siêu âm. Nhờ sự chuẩn hóa về dụng cụ, kỹ thuật, việc bóc tách đại tràng và cắt mạc treo không quá khó, có thể hạ đại tràng góc gan hay góc lách nhằm di động đại tràng đủ để đưa ra ngoài thực hiện cắt nối.

BS Long cho biết, qua theo dõi trung bình gần 30 tháng, có 9 trường hợp tái phát tại chỗ, trong đó 3 trường hợp chết sau 3 tháng, đa số trường hợp tái phát u ở giai đoạn T4 có yếu tố liên quan đến di căn hạch, khối u càng ở giai đoạn tiến triển, di căn hạch, xâm lấn sâu trong thành đại tràng thì tỷ lệ tái phát tại chỗ càng cao. Trong nghiên cứu không ghi nhận trường hợp nào di căn lỗ trocar hay tại vết mổ nhỏ lấy bệnh phẩm do bác sĩ che chắn vết mổ bằng găng tay đã cắt bỏ phần các ngón, dùng cổ và bàn tay để che chắn vết mổ, có dụng cụ chuyên biệt để che chắn nhưng giá thành cao. Để phòng tránh di căn qua lỗ trocar, bác sĩ Long cho rằng cần tránh thay đổi dụng cụ mổ, cố định trocar không để di động, che chắn vết mổ hoặc bỏ bệnh phẩm vào bao bệnh phẩm trước khi lấy ra ngoài. Kết quả sau 36 tháng, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu sống không bệnh là 91,6%; về di căn xa có 10 trường hợp di căn gan do tế bào ung thư di căn theo đường máu vào tĩnh mạch mạc treo tràn trên, tĩnh mạch mạc treo tràn dưới để về tĩnh mạch cửa và di căn đến gan. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan tỷ lệ di căn xa với kích thước khối u, mức độ xâm lấn, di căn hạch, độ biệt hóa của khối u, giai đoạn T và giai đoạn theo Dukes, giai đoạn TNM.
Hữu Lai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 153

Số lượt truy cập: 9349692

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang