Đái dầm là bệnh thường gặp, chiếm tỷ lệ khoảng 10% trẻ em từ 5 – 10 tuổi. Hiện vẫn có quan điểm đái dầm là một bệnh tự khỏi, vì vậy nhiều bệnh nhân bị đái dầm chưa được chẩn đoán, điều trị.
Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Phú Việt cùng cộng sự Học Viện quân Y; phòng khám đa khoa Âu Việt thực hiện tham khảo các công trình nghiên cứu về đái dầm đã được công bố thời gian gần đây, báo cáo chuyên đề “Đái dầm có phải là một bệnh tự khỏi hay không và phải làm gì trước một bệnh nhân đến khám vì đái dầm”.
Đái dầm được định nghĩa là sự mất nước tiểu không thể kiểm soát được. Đái dầm có thể liên tục hoặc cách quãng. Đái dầm ban đêm là sự mất nước tiểu cách quãng, không thể kiểm soát được, trong giấc ngủ, ở trẻ em có độ tuổi ít nhất là 5 tuổi.

Thuật ngữ đái dầm ban ngày, theo tác giả nghiên cứu không rõ nghĩa, không nên sử dụng. Đái dầm nguyên phát là trẻ chưa bao giờ có một khoảng thời gian ít nhất là 6 tháng trong các giấc ngủ, tự chủ được việc đi đái (không bị đái dầm). Đái dầm tái phát sau 6 tháng kiểm soát được việc đi đái trong các giấc ngủ không bị đái dầm. Đái dầm nguyên phát đơn độc là đái dầm nguyên phát, chỉ có một triệu chứng là đái dầm trong giấc ngủ ban đêm mà không có bất cứ triệu chứng nào khác, đặc biệt là nước tiểu tự chảy vào ban ngày; đây là triệu chứng bệnh lý của đường tiểu dưới. Triệu chứng thức dậy vào ban đêm vì buồn đi đái là triệu chứng có thể phối hợp với đái dầm nguyên phát đơn độc.
Tác giả nghiên cứu cho biết, thể đái đêm nhiều với chức năng bàng quang bình thường, do độ thẩm thấu thấp nhỏ hơn 800 mos/l; sự đảo nhịp ngày đêm của việc bài tiết vasopressin đã được biết, tuy nhiên không phải chỉ do một nguyên nhân này. Các cơn ngừng thở khi đang ngủ và/hoặc ứ tắc ngã ba họng hầu do đờm đều gây ra đái nhiều, vì tăng alhidrit carbonic máu; khi điều trị các bệnh này sẽ cải thiện chứng đái dầm nguyên phát đơn độc.
Một nguyên nhân sinh bệnh học khác là sức chứa bàng quang ít; bằng 70% khả năng chứa đựng của bàng quang trên lịch đi tiểu trong 24 giờ; kèm theo cơ bàng quang tăng hoạt vào ban đêm (gặp trong 30% trường hợp). Ở trẻ em đái dầm cũng do khó thức dậy để đi tiểu vì ngưỡng thức – tỉnh thấp. Một yếu tố khác là 30- 60% có liên quan đến di truyền.
Tác giả Nguyễn Phú Việt cho biết, chẩn đoán xác định đái dầm chỉ dựa vào lâm sàng không có bất cứ xét nghiệm nào về chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm máu hoặc nước tiểu để giúp cho công tác chẩn đoán. BS sẽ hỏi tiền sử, bệnh sử tỉ mỉ, khám toàn thân, để khẳng định chẩn đoán và loại trừ các nguyên nhân tiết niệu khác gây ra mất nước tiểu cách quãng về ban đêm. Các xét nghiệm nên làm giúp công tác chẩn đoán phân biệt. Cần theo dõi lịch đi tiểu 48 giờ để chẩn đoán thể bệnh (thể đái đêm nhiều đơn thuần hay thể sức chứa của bàng quang ít). Về phân loại đái dầm chia ra mức độ nhẹ dưới 1 lần/1tuần; mức độ trung bình khi 1 – 2 lần/tuần và mức độ nặng khi ít nhất 3lần/tuần. Hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau, chưa được thống nhất.
Về rối loạn kèm theo, đái dầm nguyên phát đơn độc có thể phối hợp với các rối loạn về tinh thần, thiếu tập trung và tăng động với tỷ lệ từ 10 – 20%. Giảm sự tự tin cũng là triệu chứng thường gặp khi được điều trị tốt các triệu chứng này sẽ được cải thiện. Ngoài ra sự ảnh hưởng của cuộc sống gia đình, xã hội cũng tác động đến đái dầm của trẻ.
Về điều trị, tác giả nghiên cứu cho biết theo lịch sử bệnh có xu hướng tự khỏi với tỷ lệ 15%. Nhưng quan niệm cho là tất cả bệnh nhân bị đái dầm sẽ tự khỏi vào tuổi dậy thì là sai, vì đái dầm gặp cả ở người lớn. Nếu ở trẻ em đái dầm không điều trị có khoảng 3% đái dầm khi lớn lên.
Tác giả nghiên cứu khuyến cáo, nên chọn đồ uống và chia lượng nước uống trong ngày để uống làm nhiều lần. Đối với trẻ đái dầm, lượng nước uống trong ngày là bình thường như các trẻ cùng độ tuổi, không đi đái dầm (45 – 60 ml/kg), nhưng chỉ uống từ 7 giờ sáng đến 6 giờ chiều. Hạn chế uống nước sau 6 giờ chiều. Bữa ăn sáng uống nước bằng 1/3 nhu cầu hàng ngày. Ưu tiên loại đồ uống ít muối khoáng. Cuối ngày không uống đồ uống có đường, có gaz, không ăn các món mặn nhiều muối; buổi tối hạn chế đồ ăn uống có canxi, ăn uống các sản phẩm của sữa.
Cần khuyến khích trẻ đi tiểu đều trong ngày, bệnh nhân nên đi tiểu 5 – 6 lần/1ngày; nhớ đi tiểu lúc ngủ dậy và lúc đi ngủ. Khi buồn đi tiểu, đi tiểu ngay. Khi đi tiểu thư giãn cơ thể tối đa và để dòng nước tiểu chảy tự nhiên, không cần phải rặn đái. Thực hiện các lời khuyên này ít nhất 2 tuần, điền vào lịch đi tiểu các đêm bị đái dầm và các đêm không bị đái dầm. Việc đánh giá mức độ đái dầm, ngay từ đầu đợt thực hiện chế độ vệ sinh ăn uống và đi tiểu là rất quan trọng.
Các bệnh nhân không khỏi bệnh đái dầm bằng chế độ ăn uống và đi tiểu như bác sĩ đã hướng dẫn, cần phải điều trị đặc hiệu bắt đầu từ 6 tuổi. Bác sĩ sẽ điều trị đặc hiệu các căn nguyên nổi trội (desmopressin cho thể đái đêm nhiều; hệ thống báo thức cho thể sức chứa bàng quang ít). Trong trường hợp trơ ì với các phương pháp điều trị có thể bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp phối hợp các phương pháp điều trị với nhau.
Mai Trang