[Đăng ngày: 23/03/2015]
Năm 2012, dịch bệnh sốt xuất huyết xảy ra tại nhiều tỉnh, thành phố khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Tại tỉnh Khánh Hòa có 5.289 ca mắc, 5 ca tử vong. Năm 2013, dịch sốt xuất huyết của tỉnh Khánh Hòa tiếp tục diễn biến phức tạp với 7.596 ca mắc, 4 ca tử vong; trong đó thị xã Ninh Hòa là địa phương có số mắc trên 100.000 dân cao nhất. Trong 2 năm, có nhiều bệnh nhân nhập viện điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa, trong đó có nhiều ca sốt xuất huyết Dengue nặng. Trong quá trình điều trị sốc sốt xuất huyết tái sốc có khả năng xảy ra với tỷ lệ cao. Bệnh nhân sốc sốt xuất huyết khi bị tái sốc điều trị khó khăn, phức tạp và tiên lượng xấu hơn bệnh nhân không tái sốc. Tỷ lệ tử vong đã giảm rõ rệt kể từ khi có chương trình, phác đồ phòng chống sốt xuất huyết , nhưng vấn đề điều trị cho một ca sốt xuất huyết tái sốc vẫn là một khó khăn lớn cho các bác sĩ. Vì vậy, BS.Trần Hoàng Ái Châu- Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sốc sốt xuất huyết Denge tại Bệnh viện Ninh Hòa”, nghiên cứu có 2 mục tiêu: (1) Nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, phương pháp và kết quả điều trị trong sốc sốt xuất huyết Dengue và (2) Tìm hiểu các yếu tố liên quan tới tái sốc trong sốc sốt xuất huyến Dengue.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2012 đến tháng 12/2013; trên 53 bệnh nhân được chẩn đoán sốc sốt xuất huyết Dengue (SXHD) điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa. Tiêu chuẩn chẩn đoán áp dụng của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2009, phương pháp nghiên cứu là nghiên cứu hồi cứu mô tả.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam giới là 31 trường hợp (58,5%); nhóm tuổi 5-15 tuổi chiếm 62,3%; trên 15 tuổi là 33,9%. Nhóm trên 15 tuổi theo nhiều báo cáo tỷ lệ sốc SXHD đang gia tăng, tỷ lệ bệnh nhân SXH vào viện sớm trong 24 giờ đầu chỉ chiếm 1,9%; bệnh nhân béo phì là 9,4%; vùng đồng bằng chiếm 96%. Ngày bệnh nhân SXH sốc chủ yếu ngày 4 đến ngày 6; tỷ lệ tái sốc là 32,1%; không tái sốc lần 1 chiếm 26,4%; có 01 trường hợp tái sốc 03 lần. Thời điểm tái sốc trên 12 giờ chiếm tỷ lệ 52,9%; 6-12 giờ là 41,2%. Các triệu chứng báo hiệu bệnh nhân nặng gồm đau bụng (73,6%), gan lớn (54,7%), nôn mửa (49,1%) và 49,1% có xuất huyết da niêm chủ yếu bầm máu nơi tiêm chích, chảy máu chân răng, chảy máu mũi, ra máu âm đạo. Xuất huyết tiêu hóa gặp 9,4%; các biến chứng khác như tràn dịch màng bụng 47,2%; tràn dịch màng phổi 43,4%.
Đa số bệnh nhân trong nghiên cứu có số lượng bạch cầu giảm nặng < 4.000 (50,9%); mức độ giảm tiểu cầu < 50.000/mm3 chiếm 60,3%. Ở bệnh nhân tái sốc tiểu cầu tiếp tục giảm < 50.000/ mm3 (82,4%). Hematoctit (Hct) tăng trở lại trên 45% (41,2%); Hct phản ánh tình trạng thất thoát huyết tương, Hct càng cao tình trạng thất thoát huyết tương càng nhiều, bệnh nhân SXH sốc, có Hct tăng cao cần được theo dõi sát phát hiện các dấu hiệu đe dọa tái sốc sớm, điều trị kịp thời để giảm nguy cơ tái sốc.
Một số đặc điểm sinh hóa của các đối tượng nghiên cứu là men gan tăng, hạ porotit máu, rối loạn đường giải, hạ Natri máu, hạ Kali máu…Trên siêu âm thấy dày vách túi mật (58,5%), tràn dịch màng bụng (47,2%), tràn dịch màn phổi (45,2%); có 39,6% tràn dịch cả màng phổi và màng bụng.
Kết quả huyết thanh học của đối tượng nghiên cứu cho thấy tỷ lệ có test Elisa dương tính là 86%; xét nghiệm NS1(+) là 72,7%. Đối với công tác điều trị, lượng dịch sử dụng đa số <80ml/kg, dịch cao phân tử sử dụng là 62,4%, thời gian truyền dịch phần lớn <24 giờ. Kết quả điều trị tốt trên đối tượng nghiên cứu chiếm tỷ lệ 77%; thời gian điều trị trung bình là 5 ngày, chuyển viện 12 trường hợp trong đó có 01 trường hợp tử vong tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa.
Nghiên cứu cũng tìm ra một số yếu tố liên quan như những bệnh nhân sốc muộn từ ngày thứ 6 trở đi có tỷ lệ tái sốc thấp, bệnh nhân lúc vào viện sốt >38 độ C có tỷ lệ tái sốc chiếm 66,7% (p<0,05). Hiệu áp khi vào sốc: những bệnh nhân vào sốc có hiệu áp            < 10mmHg có tỷ lệ tái sốc 66,7% cao hơn so với nhóm có hiệu áp > 10mmHg (22,7%), (p< 0,05). Vì vậy, đối với những bệnh nhân sốc SXH có hiệu áp thấp khi vào sốc cần được theo dõi sát, phát hiện các biến chứng sớm và điều trị kịp thời.
Đối với những bệnh nhân tái sốc, kết quả nghiên cứu đã ghi nhận có các triệu chứng bứt rứt, gan lớn, xuất huyết tiêu hóa cao hơn so với nhóm không tái sốc (p<0,05). Đối với mối liên quan giữa mức giảm Hct và tái sốc, kết quả nghiên cứu cho thấy nếu sau 6 giờ đầu điều trị, Hct giảm <5%, tỷ lệ tái sốc là 39%; trong khi nếu Hct giảm >5%, tỷ lệ tái sốc là 8,3% (p<0,05). Điều này cũng tương tự ở kết quả điều trị trong 12 giờ đầu, vì vậy trong khi điều trị nếu tình trạng thất thoát huyết tương tiếp tục diễn tiến, sử dụng dịch truyền không đủ và không phù hợp bệnh nhân có nguy cơ tái sốc, sốc kéo dài và tăng tỷ lệ tử vong. Nghiên cứu cũng cho rằng cần có thêm nghiên cứu về vai trò của việc sử dụng dung dịch cao phân tử trong điều trị đối với diễn tiến tái sốc trên người bệnh SXHD.
Nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị như: tăng cường huấn luyện và trang bị đầy đủ trang thiết bị kỹ thuật để có khả năng điều trị sốc sốt xuất huyết nặng; tuân thủ nguyên tắc chuyển viện an toàn trong sốc sốt xuất huyết. Triển khai kỹ thuật CVP qua đường tĩnh mạch nền và đo huyết áp động mạch xâm lấn. Tăng cường công tác hội chẩn tuyến trên để giảm tỷ lệ chuyển viện tránh các diễn biến xấu trên đường chuyển viện.
Quế Lâm
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 102

Số lượt truy cập: 9376962

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang