Theo báo cáo của Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em Bộ Y tế, đối với hoạt động chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ em, trong năm 2016 Vụ tiếp tục triển khai nhân rộng mô hình chăm sóc sức khỏe bằng phương pháp Kangaroo (KMC) thông qua việc ban hành các hướng dẫn chỉ đạo chuyên môn và tập huấn. Theo báo cáo rà soát ban đầu, hiện tại có tổng số 58 bệnh viện tuyến tỉnh đã được đào tạo về KMC, trong đó có 26 bệnh viện đang triển khai KMC.
Vụ Chăm sóc Sức khỏe Bà mẹ -Trẻ em đã phối hợp với Dự án A&T triển khai các hoạt động tăng cường thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, thực hiện 10 điều kiện của Bệnh viện bạn hữu trẻ em tại 15 tỉnh, thành phố; phối hợp với Tổ chức Tầm nhìn quốc tế tại Việt Nam xây dựng hướng dẫn triển khai hoạt động nuôi con bằng sữa mẹ tại cộng đồng và 10 điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ tại cơ sở y tế. Hướng dẫn kỹ thuật được ban hành là cơ sở để các bệnh viện triển khai 10 điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM), góp phần thực hiện 1 trong những tiêu chí Chất lượng Bệnh viện do Bộ Y tế ban hành.
Phối hợp với Bộ, ngành liên quan trong hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ em và nuôi dưỡng trẻ nhỏ như phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trong các hoạt động nhằm tăng cường công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em, thực hiện các chỉ tiêu về sức khỏe trẻ em trong Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020; Xây dựng kế hoạch triển khai Tháng hành động vì trẻ em năm 2016; Chương trình hành động vì trẻ em; Tiếp tục phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai các hoạt động hỗ trợ bà mẹ NCBSM, thực hiện Luật Lao động sửa đổi về chế độ nghỉ thai sản cho lao động nữ nhằm tăng cường tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu, giúp người mẹ có điều kiện tốt hơn để NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu.
Phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đánh giá thực trạng chăm sóc sức khỏe phụ nữ có thai và trẻ nhỏ khu vực nông thôn, từ đó đề xuất xây dựng chính sách chăm sóc thai sản cho phụ nữ nông thôn.
Theo đánh giá của Vụ Chăm sóc Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, tử vong sơ sinh chưa có xu hướng giảm. Theo số liệu thống kê SKSS hàng năm, tử vong sơ sinh vẫn chiếm khoảng 70% tử vong trẻ em dưới 1 tuổi (con số theo Điều tra MICS 2014 là 82%), trong đó các vùng có tử vong sơ sinh cao nhất là Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
Theo kết quả Điều tra biến động dân số 1/4/2015, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi tương ứng đã giảm xuống còn 14,7/1.000 và 22,2/1.000 trẻ đẻ sống. So sánh giữa các khu vực, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi ở các vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và huyên hải miền Trung vẫn cao hơn rõ rệt so với các khu vực khác. Để giảm tử vong trẻ dưới 1 tuổi, đặt biệt tại các vùng này, rõ ràng cần tập trung triển khai các can thiệp để giảm tử vong sơ sinh. Chỉ tiêu về tử vong dưới 5 tuổi không đạt nhưng có xu hướng giảm xuống. Tuy nhiên, chỉ tiêu này sẽ khó có thể giảm mạnh nếu không được đầu tư tương xứng và triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp cũng như các can thiệp chuyên môn đặc thù.
Đối với công tác phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm 2016, ước tính tỉ lệ suy dinh dưỡng thể cân nặng/ tuổi ở trẻ em dưới 5 tuổi là 13,8%, giảm 0,3% so với năm 2015. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ước là 24,1%, giảm 0,3% so với năm 2015; tuy nhiên vẫn còn nhiều tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở mức cao (trên 30%). Để phấn đấu thực hiện mục tiêu cải thiện tầm vóc, thể lực của người Việt Nam trong những năm tới cần tăng cường ưu tiên đầu tư và lồng ghép với can thiệp chăm sóc, cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai bao gồm cả bổ sung vi chất dinh dưỡng , tăng cường NCBMS hoàn toàn trong 6 tháng đầu; triển khai Chương trình sữa học đường kết hợp với tăng cường giáo dục dinh dưỡng, giáo dục thể chất trong hệ thống trường học. Bên cạnh đó, hiện nay chúng ta vẫn phải đang đối mặt với tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em tại khu vực thành thị, những nơi có điều kiện về kinh tế-xã hội thuận lợi và phát triển cũng như tình trạng gia tăng các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng. Đây tiếp tục là một gánh nặng kép về dinh dưỡng mà Việt Nam cần phải giải quyết trong các năm tới.
Đối với cung cấp biện pháp tránh thai lâm sàng, 9 tháng đầu năm 2016 cả nước cung cấp dịch vụ kỹ thuật các biện pháp tránh thai cho hơn 3 triệu trường hợp; trong đó dụng cụ tử cung đặt mới gần 650.000 trường hợp; gần 1,4 triệu phụ nữ đang sử dụng thuốc tránh thai. Đối với triệt sản nam là 359 trường hợp, triệt sản nữ 15.442 trường hợp.
Báo cáo nhận định số trường hợp phá thai các vùng đều giảm; tỷ số phá thai toàn quốc ước tính năm 2016 là 14/100 ca đẻ sống. Có 267 trường hợp tai biến phá thai, tỷ lệ 0,89%. Vụ lưu ý hệ chăm sóc sức khỏe sinh sản cần tham mưu Sở Y tế tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra phát hiện xử lý các trường hợp chưa đúng, tình trạng phá thai quá phạm vi cho phép.
Đối với tỷ lệ phá thai vị thành niên chiếm 2% trong tổng số phá thai toàn quốc. Theo kế hoạch quý I/2017, Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em sẽ ban hành hướng dẫn quốc gia, tài liệu đào tạo Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên. Xây dựng kế hoạch quốc gia chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên cũng như tổ chức triển khai các can thiệp nhằm cải thiện nhận thức, thái độ, hành vi trong chăm sóc sức khỏe sinh sản cho những nhóm tuổi đặc thù; đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên, thanh niên tại các khu công nghiệp.
Minh Châu