[Đăng ngày: 30/10/2015]
Năm 2013, tác giả Dương Đình Chỉnh- Bệnh viện Nghệ An- đã có báo cáo nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị bệnh trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nghệ An”.
Nghiên cứu được thực hiện trên 103 bệnh nhân được chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10, giai đoạn trầm cảm (F32) và giai đoạn trầm cảm tái diễn (F33). Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm liều dùng của các thuốc được sử dụng; các phác đồ đầu tiên được lựa chọn; sự thay đổi các phác đồ; đánh giá hiệu quả điều trị theo thang điểm Beck, thang điểm Zung, thời gian nằm viện trung bình; tần suất và mức độ tương tác thuốc; đánh giá điều trị củng cố sau khi ra viện.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng Amitriptylin nếu dùng liều thấp hơn 75mg/ngày không có hiệu quả, đối với người lớn liều duy trì trung bình của nghiên cứu không lớn hơn so với liều trung bình ban đầu, vì vậy hầu hết bệnh nhân đáp ứng ngay với liều lựa chọn ban đầu. Ở nhóm 11 người cao tuổi, ngoài liều khuyến cáo do vượt qua liều tối đa cho phép 50mg/ngày. Đối với thuốc chống loạn thần, do trong các hướng dẫn điều trị không đưa ra liều khuyến cáo, liều dùng của các thuốc chống loạn thần khi phối hợp điều trị trầm cảm, chỉ khuyến cáo liều thuốc chống trầm cảm thấp hơn so với liều dùng trong điều trị tâm thần phân liệt.
Tác giả nghiên cứu đã khảo sát khoảng liều các thuốc chống loạn thần, so sánh với khoảng liều khuyến cáo khi sử dụng trong các bệnh lý về tâm thần. Ở nhóm đối tượng người lớn hầu hết các thuốc trong liều khuyến cáo; đối với nhóm người cao tuổi, cả 3 trường hợp dùng Haloperidol đều vượt qua liều cho phép. Còn theo các tài liệu thì dùng thuốc chống loạn thần cho người cao tuổi nên dùng liều thấp ban đầu, bằng ½ hoặc ít hơn liều người lớn và cần được theo dõi thường xuyên.
Đối với Diazepam, các thuốc bình thần trong nghiên cứu tác giả sử dụng trung bình ở người lớn là 9,69 ngày và người cao tuổi là 9,38 ngày; phù hợp với khuyến cáo sử dụng trong trường hợp trầm cảm kèm theo triệu chứng lo âu, mất ngủ nhiều, tuy nhiên nếu dùng kéo dài thời gian sẽ dẫn đến nguy cơ nghiện thuốc.
Đối với phác đồ đầu tiên được lựa chọn trong điều trị, kết quả nghiên cứu của tác giả phác đồ thuốc chống trầm cảm cộng với thuốc chống loạn thần cộng với thuốc bình thần có tỷ lệ dùng cao nhất (41,75%). Đa số người bệnh được sử dụng phác đồ có triệu chứng lo âu (79,6%); mất ngủ (100%); đồng thời tỷ lệ bệnh nhân trần cảm nặng có loạn thần trong nhóm nghiên cứu chiếm tỷ lệ đến 44,6%.
Đối với sự thay đổi phác đồ điều trị, có 70,8% người bệnh không phải thay đổi phác đồ điều trị, cao hơn tỷ lệ bệnh nhân phải thay đổi phác đồ là 29,2%; như vậy hầu hết bệnh nhân đáp ứng tốt với phác đồ đầu tiên. Ở những trường hợp thay đổi phác đồ vì bệnh nặng thêm, điều trị lâu ngày nhưng các triệu chứng không thuyên giảm.
Đánh giá hiệu quả điều trị theo thang điểm Beck được thực hiện 2 thời điểm là trước khi nhập viện và trước khi ra viện, kết quả nghiên cứu cho thấy trầm cảm đã có thuyên giảm tốt trước khi ra viện, mức độ rối loạn trầm cảm nặng trước khi nhập viện có tỷ lệ 48,9%; trước khi ra viện tỷ lệ này là 4,08%.
Đánh giá mức độ cải thiện triệu chứng lo âu theo thang điểm Zung, trước nhập viện là 74 bệnh nhân (77%); trước khi ra viện triệu chứng lo âu giảm chỉ còn 10 bệnh nhân (10,4%) có lo âu nhẹ (p<0,05).
Thời gian nằm viện trung bình của đối tượng nghiên cứu của giai đoạn trầm cảm là 31 ngày, của trầm cảm tái diễn là 35 ngày. Do các bệnh nhân được chỉ định trung bình 2-3 thuốc đồng thời, không có ca nào có tương tác thuốc xảy ra. Tuy nhiên có 33 trường hợp có tương tác thuốc nhẹ, tiềm ẩn cần theo dõi, hay gặp là sử dụng amitriptylin + risperidon; amitriptylin + haloperidol. Mức độ tương tác cần theo dõi là có sự tăng khoảng QT làm rối loạn nhịp tim.
Đối với thời gian điều trị củng cố của bệnh nhân, kết quả nghiên cứu cho thấy có 45,7% đối tượng nghiên cứu sử dụng thuốc trên 6 tháng; tỷ lệ bệnh nhân bỏ thuốc ngay sau khi ra viện, dùng ngắt quãng và dùng ít hơn 6 tháng chiếm đến 54,2%. Lý do người bệnh bỏ thuốc là do bệnh nhân thấy bệnh không đỡ (56,2%), do tác dụng phụ của thuốc chiếm 15,6%; do điều kiện kinh tế khó khăn, nhà xa chiếm 15,6%.
Tác giả Dương Đình Chỉnh kết luận nghiên cứu là kết quả điều trị bệnh trầm cảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, điều kiện kinh tế, sự có sẵn của thuốc, việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân, kinh nghiệm điều trị của thầy thuốc. Tác giả kiến nghị cần tăng cường giáo dục, tư vấn cho người bệnh trầm cảm tuân thủ điều trị trong quá trình nằm viện và sau khi ra viện. Bệnh viện cần xác định phác đồ chuẩn cho từng mức độ trầm cảm phù hợp với đặc điểm của bệnh viện và phù hợp với hướng dẫn điều trị trong nước và thế giới.
Chúng ta biết rằng, trầm cảm dùng để mô tả hội chứng bệnh lý đặc trưng bởi khí sắc trầm cùng với một số triệu chứng khác duy trì trong một khoảng thời gian kéo dài trên 2 tuần. Trầm cảm có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nghề nghiệp khác nhau, cả nông thôn và thành thị; chiếm tỷ lệ khoảng 6% dân số. Nếu trầm cảm không được điều trị sẽ làm chất lượng cuộc sống giảm, hạn chế khả năng làm việc, sinh hoạt hằng ngày, làm cho các bệnh lý khác tiềm tàng trong cơ thể nặng lên, diễn biến xấu nhất của bệnh là ý tưởng và hành vi tự sát.
Điều trị bệnh trầm cảm phải lâu dài, từ từ, phụ thuộc sự tiến triển của bệnh, người thầy thuốc và bệnh nhân đều phải kiên trì trong quá trình điều trị. Việc người bệnh tuân thủ quy trình điều trị sẽ giúp nâng cao chất lượng điều trị, chất lượng nằm viện qua đó giúp người bệnh sớm hồi phục hòa nhập tốt với gia đình và xã hội.
Bảo Trâm
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 114

Số lượt truy cập: 9359358

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang