
Tại Hội nghị Khoa học Y tế Công cộng lần 2, năm 2015 do Hội Y tế Công cộng TP Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 9/2015, đề tài của PGS.TS Vũ Anh Nhị cùng các cộng sự Bộ môn Thần kinh- Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh về “Nghiên cứu dịch tễ bệnh lý sa sút trí tuệ tại TP Hồ Chí Minh” được nhiều đại biểu quan tâm.
Nghiên cứu được thực hiện với hai mục tiêu là (1) xác định tỷ lệ hiện mắc bệnh lý sa sút trí tuệ tại TP Hồ Chí Minh của dân số nghiên cứu; (2) mô tả đặc điểm của bệnh lý sa sút trí tuệ: dịch tễ, các thể lâm sàng sa sút trí tuệ (bệnh Alzheimer, sa sút trí tuệ mạch máu, sa sút trí tuệ hỗn hợp, sa sút trí tuệ các thể khác) của dân số nghiên cứu và các đặc điểm của từng thể lâm sàng, hình ảnh MRI não, các xét nghiệm máu.
Có 2.080 người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên tại 19 quận; 5 huyện; 319 phường, xã, thị trấn tham gia nghiên cứu. Trong đó, nữ giới chiếm 68,2% và nam giới chiếm 31,8%. Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 50% có trình độ học vấn dưới tiểu học, đặc biệt 18,2% người cao tuổi không biết đọc, viết. Về nghề nghiệp, lao động trí óc là 13,2%; lao động tay chân chiếm tỷ lệ 40,1%; nội trợ là 21,6%; không làm gì 16% và khác là 9,1%. Có đến 81,3% sống ở thành thị và 18,7% sống ở nông thôn. Dân số nghiên cứu có thói quen uống rượu bia là 3,1%; hút thuốc lá 9,2%; luyện tập thể dục thể thao 54,7% (chủ yếu đi bộ).
Đối với tiền căn bệnh tật: 9,7% có tiền căn chấn thương đầu ( không và có phẫu thuật), tiền căn tăng huyết áp 51,7%; tiền căn đái tháo đường 12,8%; tiền căn đã bị tai biến mạch máu não một hoặc nhiều lần là 7,2%; một số bệnh lý khác chủ yếu là các bệnh cột sống, đau khớp…39,1%. Tiền căn gia đình có người mắc bệnh giảm trí nhớ là 2,5%.
Nghiên cứu thực hiện theo thang điểm đánh giá trạng thái tâm thần kinh thu nhỏ (MMSE), đây là phương tiện tầm soát cho các rối loạn về trí nhớ và nhận thức hay sa sút trí tuệ. Thang điểm thứ hai là đánh giá thang điểm hoạt động sống hàng ngày (ADL), đánh giá chủ yếu về các hoạt động sống cơ bản của một cá nhân như ăn uống, đi vệ sinh, mặc quần áo, chăm sóc bản thân, đi lại và tắm rửa. Kết quả 90% đạt 6 điểm hay hoạt động sống hàng ngày không bị ảnh hưởng, 10% có điểm số từ 0-5 điểm hay hoạt động sống hàng ngày có bị ảnh hưởng.
Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ trên lâm sàng theo tiêu chuẩn DSM-IV gồm có suy giảm trí nhớ và mất ít nhất một chức năng (ngôn ngữ, mất thực dụng, mất nhận thức và mất chức năng thực hiện), từ đó gây ra sự suy giảm đáng kể chức năng xã hội và nghề nghiệp. Vì vậy, người cao tuổi có khả năng mắc sa sút trí tuệ trên lâm sàng thông qua tiêu chí khi có cả 3: có bất thường về trí nhớ và nhận thức, điểm số MMSE từ 24 trở xuống và hoạt động sống hàng ngày bị ảnh hưởng với điểm số ADL < 5.
Ở giai đoạn 2, qua thăm khám lâm sàng đánh giá các triệu chứng thần kinh như ý thức tri giác, dấu hiệu thần kinh định vị, đánh giá hoạt động sống hàng ngày lần nữa thông qua thang điểm đánh giá hoạt động sống hàng ngày bằng phương tiện dụng cụ của tác giả Lawton (IADLs). Và người cao tuổi được chọn vào giai đoạn 2 đã được thực hiện các cận lâm sàng về huyết học, sinh hóa máu và hình ảnh học não. Có 06 người cao tuổi trong số 133 người cao tuổi đã tử vong, với 03 trường hợp có biểu hiện lâm sàng trước lúc chết ở giai đoạn nặng của sa sút trí tuệ (ghi nhận từ người thân). Có 02 người cao tuổi đã đi khỏi nơi cư trú và không thể liên lạc được với gia đình họ để thăm khám đánh giá cho giai đoạn 2. Còn lại 125 người cao tuổi được đánh giá theo mẫu thu thập số liệu của giai đoạn 2.
Đánh giá thang điểm IADL, thang điểm này đánh giá các khía cạnh trong hoạt động sống hàng ngày như khả năng sử dụng điện thoại, mua bán, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ quần áo, sử dụng phương tiện giao thông, sử dụng thuốc và khả năng quản lý chi tiêu. Kết quả 100% người cao tuổi được lựa chọn trong khảo sát giai đoạn 2 đều có bất thường về điểm số IADL, điểm số dao động từ 0-4 điểm ở nam giới và 0-7 điểm ở nữ giới. Điều này cho thấy 125 người cao tuổi có biểu hiện lâm sàng sa sút trí tuệ qua tầm soát giai đoạn 1 là khá chính xác.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu có sa sút trí tuệ là 79,9; học vấn trung bình lớp 3; lao động trí óc 6%; lao động chân tay 59%; không làm gì 35%. Ở thành thị chiếm đến 72,7%; nông thôn 27,3%.
Về kết quả xếp loại thể lâm sàng sa sút trí tuệ: khi có chẩn đoán 99 người cao tuổi có sa sút trí tuệ trên lâm sàng dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ DSM-IV, phối hợp các yếu tố về đặc điểm lâm sàng, các kết quả cận lâm sàng hỗ trợ loại trừ các nguyên nhân gây sa sút trí tuệ do các rối loạn của bệnh lý nội khoa, và kết quả hình ảnh học não của người cao tuổi để phân loại các thể lâm sàng sa sút trí tuệ.
Kết quả có 44 trường hợp bệnh Alzheimer, 23 sa sút trí tuệ mạch máu, 30 sa sút trí tuệ hỗn hợp, 01 sa sút trí tuệ trên bệnh nhân liệt hành tủy tiến triển và 01 sa sút trí tuệ trên bệnh nhân Parkinson.
Những trường hợp sa sút trí tuệ hỗn hợp trên lâm sàng có biểu hiện bằng bệnh cảnh bệnh Alzheimer, nhưng khi kết hợp kết quả hình ảnh học não nhận thấy có những tổn thương não yên lặng của bệnh lý mạch máu não ở các vùng chiến lược trong sa sút trí tuệ mạch máu và cả hình ảnh teo não hồi hải mã của bệnh Alzheimer. Vì vậy, các tác giả nghiên cứu xếp loại các trường hợp này vào nhóm sa sút trí tuệ hỗn hợp.
Văn Hanh