
Tại Hội nghị Y tế Công cộng TP Hồ Chí Minh lần 2 được tổ chức vào ngày 19.9.2015, PGS.TS Trần Ngọc Hữu- nguyên Viện trưởng Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh đã có bài trình bày “Sốt xuất huyết thực trạng, giải pháp và thách thức”.
Theo PGS.TS Trần Ngọc Hữu, tỷ lệ mới mắc của sốt xuất huyết đã gia tăng nhanh chóng trên khắp thế giới trong những thập niên gần đây. Số liệu báo cáo hiện nay về sốt xuất huyết chắc chắn thấp hơn nhiều so với con số thực và có nhiều trường hợp chẩn đoán sai. Một nghiên cứu gần đây ước lượng mỗi năm có 390 triệu ca nhiễm sốt xuất huyết (KTC95%: 284-528 triệu), trong đó có 96 triệu (67-136 triệu) trường hợp có biểu hiện lâm sàng. Một nghiên cứu khác ước lượng có 3.900 triệu người ở 128 quốc gia có nguy cơ nhiễm vi rút sốt xuất huyết. Ước lượng có hơn 500.000 ca sốt xuất huyết mỗi năm, phần lớn là trẻ em. Khoảng 2,5% những ca nặng dẫn đến tử vong.
Tại Việt Nam, số ca mắc sốt xuất huyết trung bình trong giai đoạn 2004-2010 cao thứ 3 trong số 30 nước có sốt xuất huyết lưu hành; cả 4 nhóm huyết thanh D1, D2, D3, D4 đều cùng lưu hành tại Việt Nam. Từ năm 1980 đến 2014, ghi nhận 2 đỉnh dịch có số ca mắc và chất cao vào năm 1987 (354.517 ca mắc và 1.566 ca tử vong) và năm 1997 (234.920 ca mắc và 337 ca tử vong). Trong giai đoạn 2004-2014, năm 2010 ghi nhận số ca mắc và chết thấp nhất (mắc 31.848; chết 20). Năm 2014, miền Nam chiếm 77,8% số ca mắc và 95% số ca chết của cả nước, tiếp đến là miền Trung (12,4% ca mắc 5% ca tử vong), miền Bắc (7,2% ca mắc, không tử vong), Tây Nguyên (2,6% ca mắc, không tử vong). Trẻ em chiếm 49% ca mắc. Kết quả phân lập vi rút cho thấy D1 chiếm 31,3%; D3 chiếm 30,2%; D4 chiếm 19,5% và D2 là 19%.
Ở miền Nam Việt Nam, từ năm 1999 đến năm 2014, số mắc sốt xuất huyết Dengue (SXHD) giảm trong những năm từ 1999 đến 2002 với số mắc 100.000 dân được duy trì ở mức dưới 100 ca/ 100.000 dân. Sau năm 2002, bệnh SXHD lại gia tăng trở lại, diễn ra đều ở tất cả các năm và đạt đỉnh vào năm 2008 (250 ca mắc/ 100.000 dân). Sau năm 2008, số ca mắc SXHD lại giảm đều qua các năm, đến năm 2014 số mắc/ 100.000 dân là 72 ca, thấp nhất kể tử năm 2000. Số liệu giám sát cho thấy số ca tử vong do SXHD trung bình hàng năm trong giai đoạn này là 62 ca/ năm, giảm hơn 4 lần so với giai đoạn trườc. Tỷ lệ chết/ mắc (CFR) trong giai đoạn này cũng giảm đều qua các năm từ 0,29% vào năm 1999 xuống còn 0,08% vào năm 2014.
Giai đoạn này cũng ghi nhận sự lưu hành của cả 4 týp vi rút Dengue và có sự thay đổi týp lưu hành ư thế qua các năm. DENV-2 lưu hành ưu thế trong các năm 1999-2000 và 2003-2005 DENV-1 lưu hành ưu thế vào năm 2001. Tỷ lệ lưu hàng của vi rút DENV-1 bắt đầu gia tăng từ năm 2002 và đạt đỉnh vào năm 2007. Kể từ năm 2007 đến nay thì vi rút DENV-1 luôn là týp lưu hành ưu thế tại KVPN. Vi rút DENV-4 lưu hành ưu thế vào năm 2001 sau đó tỷ lệ lưu hành của týp vi rút này giảm dần đến năm 2011 mới có sự gia tăng trở lại.
Sự dịch chuyển về độ tuổi mắc bệnh từ nhóm trẻ nhỏ lên người lớn diễn ra ngày càng phổ biến trong những năm từ 1999 đến 2014. Tỷ lệ bệnh nhân SXHD người lớn (trên 15 tuổi) tăng đều qua các năm kể từ năm 1999 và đến năm 2014 thì tỷ lệ SXHD người lớn đạt 44%. Tỷ lệ bệnh SXHD người lớn hiện tại đã tăng hơn 2 lần so với thời điểm năm 1999 (18%) và hơn 5 lần so với những năm 1990.
Bên cạnh đó, số liệu từ hệ thống giám sát cho thấy cùng với sự gia tăng về độ tuổi mắc bệnh là sự gia tăng số ca mắc SXHD tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ, là các tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa cao, đặc biệt là TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa- Vũng Tàu. Kể từ sau năm 2007 thì tỷ lệ bệnh SXHD tại nhóm tỉnh miền Đông so với toàn khu vực phía nam tăng mạnh, giao động trong khoảng từ 40% đến 66% so với giai đoạn trước đó thì số mắc SXHD tại các tỉnh này chỉ chiếm tỷ lệ từ 19% đến 42% số mắc của toàn khu vực phía nam.
PGS Trần Ngọc Hữu đã đưa ra mục tiêu là cần đặt công tác phòng chống sốt xuất huyết lên nhóm bệnh ưu tiên, đến năm 2020 giảm được 25% số ca mắc và 50% số ca tử vong do sốt xuất huyết so với năm 2010. Để thực hiện mục tiêu đó, cần có những giải pháp cụ thể như sau:
1.Cải thiện việc ước lượng gánh nặng bệnh tật của sốt xuất huyết, những dữ liệu dịch tễ học và giám sát chính xác sẽ giúp có được sự ưu tiên về mặt chính sách, phân bổ hợp lý nguồn tài chính, tăng cường nghiên cứu và tăng những nguồn lực khác cho những nhu cầu lớn nhất của việc phòng ngừa và kiểm soát SXH.
2.Quản lý véc tơ lồng ghép trong khi các chiến lược điều trị còn hạn chế và chưa có vắc xin thì những biện pháp kiểm soát véc tơ hiệu quả sẽ là thành phần thiết yếu cho mục tiêu giảm mắc và chết vào năm 2020. Quản lý véc tơ lồng ghép (IVM-Integrated Vector Management) được xem là phù hợp, ít tốn kém. IVM liên quan đến việc kết hợp các yếu tố cơ bản như huy động xã hội, lồng ghép giữa các biện pháp sử dụng hóa chất và không sử dụng hóa chất ở những vùng có sự tiếp xúc cao giửa người và côn trùng, cũng như việc ra quyết định liên quan đến nghiên cứu và chính sách dựa trên bằng chứng nâng cao năng lực.
3.Phát triển vắc xin là giải pháp mới đang được nhiều người mong đợi. Ứng viên tiềm năng nhất hiện nay là vắc xin sốt xuất huyết sống, tứ giá của công ty Sanofi Pasteur. Kết quả nghiên cứu ở giai đoạn chủ động về hiệu quả của vắc xin SXH ở 05 nước Châu Á cho thấy vắc xin SXH làm giảm 56,5% ca SXH có triệu chứng (KTC 95%: 43.8; 66.4); 80% ca SXH nặng (52.7; 92.4); 67,2% ca SXH nằm viện (50.3; 78.6). Kết quả nghiên cứu ở 05 nước Mỹ Latin có kết quả lần lượt là 60,8%; 95%; 80,3%. Một số phân tích thăm dò cho thấy tuổi và tình trạng miễn dịch với vi rút Dengue ở thời điểm trước khi tiêm vắc xin có thể ảnh hưởng đến hiệu lực vắc xin. Hiệu lực vắc xin có xu hướng tăng theo tuổi và xu hướng hiệu quả cao hơn được nhận thấy trên các đối tượng có huyết thanh dương tính với Dengue trước khi tiêm vắc xin.
Thanh Tùng