
Ngày 19/9/2015, Hội Y tế Công cộng TP.Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội nghị Khoa học Y tế Công cộng lần 2 năm 2015. Tham dự có GS.TS Lê Vũ Anh- Chủ tịch Hội Y tế Công cộng; các giáo sư- tiến sĩ đầu ngành các lĩnh vực y sinh học Y tế Công cộng; TS.Lê Trường Giang- Chủ tịch Hội Y tế Công cộng TP Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị.
Theo TS.Lê Trường Giang, hội nghị Y tế Công cộng lần 2 được tổ chức nhằm lắng nghe những bằng chứng khoa học từ các đề tài nghiên cứu khoa học trong thời gian qua của các cán bộ hoạt động trên lĩnh vực Y tế Công cộng, qua đó có những định hướng khoa học, liên kế giữa các nhà khoa học cho sự phát triển các hoạt động nghiên cứu, triển khai hoạt động, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm trên các lĩnh vực y tế công cộng như: quản lý và chính sách y tế, phòng chống dịch bệnh nguy hiểm, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, phòng chống các bệnh mãn tính không lây nhiễm, sức khỏe bà mẹ trẻ em và Dân số-KHHGĐ, công nghệ thông tin y tế, môi trường, biến đổi khí hậu…
Mở đầu tại Hội nghị khoa học, GS.TS Lê Vũ Anh đã có bài trình bày “Y học cá thể và những ứng dụng trong dự phòng và dự báo”. Theo giáo sư, những tiến bộ về công nghệ y tế và tin học đã mở đường cho vô cùng nhiều và liên tục thay đổi những khả năng để con người có thể tiếp cận giải quyết vấn đề một cách rất đặc thù, và hiệu quả cao trong y học. Ngành y sẽ không những nhìn được những tổn thương mặc dù rất nhỏ bé ở nhiều cơ quan trong cơ thể mà còn có thể phòng và dự đoán những bệnh nguy hiểm, có khả năng gây tử vong cao ngay từ khi những bệnh đó chưa xuất hiện. Cũng như thế, các loại thuốc đặc hiệu cho từng người bệnh cũng được sản xuất ra để điều trị đặc thù những bệnh tật đó, trên bệnh nhân đó. Vắc xin đặc hiệu cá thể cũng được sản xuất theo kiểu như vậy.
GS.Lê Vũ Anh đã đưa ra khái niệm y học các thể- Personalize Medicine (PM), đó là mô hình y tế đề xuất các kiểu chăm sóc sức khỏe tùy biến, trong đó các quyết định, thực hành, và sản phẩm được thiết kế riêng cho từng bệnh nhân. Trong mô hình này, xét nghiệm chẩn đoán thường được sử dụng cho việc lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp và tối ưu dựa vào thực tế trạng thái di truyền hoặc phân tích phân tử hay tế bào của từng bệnh nhân. Trên thực tế thì việc sử dụng các thông tin liên quan tới di truyền của từng cá thể đã giúp cho các hãng dược đặc thù hóa một số loại thuốc nhằm tác động một cách có hiệu quả cao nhất cho việc điều trị một số bệnh trên những bệnh nhân nhất định.
Giáo sư nhấn mạnh y học cá thể là kết quả của các tiến bộ khoa học y- sinh học và công nghệ, việc nó ra đời lại đánh dấu một giai đoạn phát triển mới ở một tầm cao hơn hẳn, khác biệt. Có thể nói đây lại là một chương trình mới trong y học và việc mở rộng phạm vi ứng dụng của nó, việc tăng cường phạm vi ảnh hưởng của nó trên thị trường y tế toàn cầu sẽ một mặt, là nền tảng để tăng cường chất lượng sống con người và mặt khác cho phép những ý tưởng mới xuất hiện dựa trên nền tảng khoa học mới, và đó chính là vòng xoáy phát triển của nhân loại trong bất kỳ lĩnh vực khoa học nào. Điều này cũng giống như chính việc hình thành khái niệm y học cá thể đã cho phép ngành y tiến hành một cuộc cách mạng lớn lao trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Nó được coi là nhằm biến đổi bản chất của chăm sóc sức khỏe từ phản ứng và giảm nhẹ sang phòng ngừa và đảm bảo.
Theo giáo sư, cần có một cuộc cách mạng trong đào tạo nghề nghiệp y tế cho thế kỷ XXI, từ đó tiến tới những thành tựu chẩn đoán sớm, tìm ra bản chất của vấn đề sức khỏe. Những phát hiện cơ bản về cấu trúc vật liệu di truyền AND đã được công bố vào những năm giữa thể kỷ 20 là một nền tảng cơ bản. Những phát hiện cấu trúc proteine trước đó đã đóng góp một phần quan trọng…Nhưng tất cả những thành tựu đó cũng không thể dẫn tới y học các thể, nếu không có sự xuất hiện và ngay lập tức được những ứng dụng của các phương tiện công nghệ cao cho phép chụp lại, ghi nhận lại bằng hình ảnh rõ ràng của các biến đổi rất nhỉ của các tổn thương đặc hiệu cho từng bệnh đặc hiệu mà với các phương tiện hỗ trợ phi lâm sàng trước đây không thể làm được, ví dụ như các máy chụp cộng hưởng từ, nguyên tử…bên cạnh đó những hỗ trợ chẩn đoán thông qua các chế phẩm sinh học (bio-makers) chuẩn đã cho phép sàng lọc rất sớm những cá thể có khả năng mắc những bệnh nhất định thông qua việc xác định các gen thiếu hụt cho phép các bệnh này phát triển, ví dụ như nhân gen đột biến Beta Globine của cả cha và mẹ và bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm.
Như vậy, có thể nhận ra y học cá thể được bắt đầu từ việc phân tích tập hợp những dữ liệu thông tin liên quan trên một cá thể mắc bệnh và so sánh nó với hằng số của những cá thể không bệnh (đặc hiệu nào đó) rồi rút ra những kết luận quy kết nguyên nhân. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì hoàn toàn không hiệu quả về tổng thể các khía cạnh, vì thực tế có nhiều cá thể giống nhau về các chỉ sống so sánh sinh học và hoàn toàn có thể áp dụng những chiến lược giống nhau để điều trị, phòng bệnh và vì vậy y học đã tiến tới một chiến lược toàn diện và kinh tế hơn với những nhóm giống nhau này. Đó chính là bản chất của cách đề cập áp dụng những thành tựu khoa học, công nghệ với y học cá thể vào dự đoán và dự phòng cho nhóm đặc hiệu với từng vấn đề sức khỏe nhất định
Tại Hội nghị, GS.Trần Đông A, GS. Trương Đình Kiệt đã bày tỏ sự quan tâm và đánh giá cao bài trình bày của GS.Lê Vũ Anh, đồng thời mong muốn hợp tác đẩy mạnh sự kết hợp giữa y học cá thể và nghiên cứu tế bào gốc, qua đó ngày càng nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho con người ngày càng tiến bộ hơn.
Trần Mai