[Đăng ngày: 04/11/2016]
Đo lường kết quả sức khỏe không gây tử vong (hay đo lường thời gian mất do bệnh tật) trong các điều kiện tương ứng với thời gian bị mất do tử vong sớm là chủ đề của nhiều nghiên cứu sâu rộng trong suốt nhiều thập kỷ. Đo lường bệnh cụ thể như tỷ lệ tấn công, tỷ lệ mắc, tỷ suất mắc/chết đã thực hiện từ thế kỷ 19, tuy nhiên các chỉ số này chưa phản ánh đầy đủ gánh nặng do các loại bệnh tật khác nhau ảnh hưởng lên cộng đồng như thế nào, do đó các số đo tổng quát hơn về bệnh tật đã trở thành một vấn đề lớn trong những năm 1960. Nhiều tác giả đã xây dựng mô hình cho các chỉ số tổng hợp của cả tử vong và bệnh tật, mỗi chỉ số đều có sự khác biệt nhưng tất cả đều cùng xác định một loạt các trạng thái sức khỏe khác nhau, từ khỏe mạnh cho đến tử vong, các trọng số phản ánh mức độ nghiêm trọng của các trạng thái sức khỏe này và trong một số trường hợp, nó có khả năng thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác theo thời gian.
Năm 1990, các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp PTO để phân loại bệnh tật. Đến năm 1996 Murray và cộng sự xác định 483 di chứng của 131 nguyên nhân bệnh và chấn thương khác nhau. Năm 2010, Salamon và cộng sự đã ước tính lại toàn bộ trong số cho 220 trạng thái bệnh theo phương pháp mới được chuẩn hóa để tính gánh nặng bệnh tật và tử vong cho 20 nhóm tuổi, hai giới của 21 vùng trên toàn cầu. Năm 2013, Salamon và cộng sự đã bổ sung và ước tính lại toàn bộ trọng số cho 235 trạng thái bệnh. Năm 2015, WHO đã ước tính gánh nặng bệnh tật của 306 nguyên nhân bệnh của 188 quốc gia trên toàn cầu.
Ở nước ta, đã có nhiều nghiên cứu đo lường gánh nặng bệnh tật và tử vong. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây, các số liệu thu thập chủ yếu lấy từ nguồn ở bệnh viện và các cơ sở y tế khác.
Năm 2015, tác giả nghiên cứu Ths Châu Đương – Bệnh viện Đa khoa huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk cùng cộng sự đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Đo lường số năm sống khỏe mạnh bị mất do bệnh tật tại Đắk Lắk”. Mục tiêu nghiên cứu gồm (1) xác định chỉ số YLD của Đắk Lắk và sự phân bố YLD theo nhóm tuổi, giới tính, nhóm dân tộc, nghề nghiệp và điều kiện kinh tế; (2) Xác định 10 nguyên nhân hàng đầu của YLD và sự phân bố 10 nguyên nhân hàng đầu của YLD theo giới tính.
Đây là nghiên cứu cắt ngang 4838 đối tượng ở 32 cụm thôn, buôn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk để xác định tỷ lệ bệnh hiện mắc, sau đó tính tỷ lệ toàn bộ cho người dân Đắk Lắk. Sau khi thành lập danh sách các nguyên nhân bệnh theo LCD-10, lập sơ đồ ánh xạ từ nguyên nhân bệnh sang các trạng thái bệnh tương ứng, từ đó gán các trọng số của các trạng thái bệnh để tính YLD cho từng nguyên nhân bệnh. Dựa vào bảng mô tả tóm tắt không chuyên môn của các trạng thái bệnh để gán trọng số cho các nguyên nhân. Các trường hợp chẩn đoán không phân loại mức độ, sử dụng trọng số trung bình của các mức độ để tính YLD. Ví dụ: chẩn đoán thiếu máu, lấy trọng số trung bình của ba mức độ thiếu máu nhẹ, trung bình và nặng để tính YLD cho nguyên nhân thiếu máu; hoặc chẩn đoán động kinh, lấy trung bình của động kinh xuất hiện cơn dưới 1 lần/tháng, và bằng hoặc trên 1 lần/tháng để tính YLD cho nguyên nhân động kinh. Công thức tính YLD cho một nguyên nhân YLD=P*DW*1 năm, trong đó: P là số hiện mắc của nguyên nhân a; DW là trọng số bệnh tật của nguyên nhân tương ứng.
Theo phân tích của tác giả Châu Đương, số năm sống khỏe bị mất do bệnh tật năm 2015 tại Đắk Lắk là 174.662,4 YLD (tương đương 9556 YLD/100.000 dân), sai số chuẩn là 12.894,2; khoảng tin cậy 95%: 148.364,5 – 200.960,3; ta thấy khoảng tin cậy hơi rộng, điều này chứng tỏ cỡ mẫu chưa đủ lớn. Nếu không điều chỉnh đồng bệnh tật, tổng số YLD cao hơn so với có điều chỉnh tương đương 4,7%. Như vậy cứ mỗi năm, tổng số năm sống khỏe mạnh bị mất do bệnh tật trong một năm của người dân tỉnh Đắk Lắk là 174.662,4 năm. Hay nói cách khác, trong 100 ngàn dân ở Đắk Lắk thì số năm sống khỏe mạnh bị mất do bệnh tật là 9,556 năm.
Số liệu này cho thấy gánh nặng do bệnh tật ở Đắk Lắk cao gấp 1,5 lần so với cả nước. Theo tác giả nghiên cứu phân tích, kết quả phân bố theo nhóm tuổi, số năm sống khỏe mạnh bị mất do bệnh tật (YLD) ở nhóm tuổi 45-59 chiếm tỷ lệ cao nhất, kế đến là nhóm 30-44 tuổi, thấp nhất là nhóm <5 tuổi. Điều này theo tác giả nghiên cứu do đây là nhóm tuổi lao động chính trong gia đình, chịu nhiều tác động của môi trường tiếp xúc và áp lực công việc nên dễ mắc bệnh hơn các nhóm khác.
Theo giới tính: YLD ở nam thấp hơn ở nữ. Điều này có thể do người phụ nữ phải thực hiện thiên chức làm mẹ, phải sinh đẻ nên sức khỏe bị ảnh hưởng; mặc khác, đặc thù ở Đắk Lắk cũng như các tỉnh Tây Nguyên nói chung có nhiều dân tộc đang sinh sống trong đó nhiều dân tộc còn mang tính mẫu hệ, người phụ nữ là lao động chính trong gia đình, chịu áp lực về kinh tế, gánh vác nhiều công việc lao động nặng nhọc, tiếp xúc với yếu tố môi trường độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe nên mắc nhiều bệnh tật hơn, đặc biệt là các bệnh mãn tính.
Theo nhóm dân tộc: YLD ở nhóm dân tộc Kinh là cao nhất, kế đến là nhóm dân tộc Ê đê, thấp nhất là nhóm các dân tộc khác. Điều này là do tỷ lệ mắc bệnh của nhóm dân tộc kinh là cao nhất.
Tác giả nghiên cứu phân tích yếu tố nghề nghiệp: nhóm nông dân có tỷ lệ YLD cao nhất, kế đến là nhóm người già yếu. Điều này là do Đắk Lắk là một tỉnh nghèo, số lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn, trong đó nhóm nông dân chiếm 53% trong cộng đồng người dân ở Đắk Lắk, nên gánh nặng YLD cao là điều tất yếu; tỷ lệ YLD cũng chiếm tỷ lệ cao ở người già yếu, điều này có thể do tuổi càng cao thì cơ thể bị lão hóa chức năng hoạt động của các bộ phận cơ thể hạn chế, sức đề kháng bị giảm sút nên dễ mắc bệnh, đặc biệt là các bệnh mãn tính như tiêu hóa, thần kinh, tim mạch, hô hấp, cơ xương khớp.
Về điều kiện kinh tế: Nhóm hộ không nghèo có tỷ lệ YLD cao nhất, kế đến là hộ nghèo, nhóm cận nghèo có tỷ lệ YLD thấp nhất. Điều này do tỷ lệ người không nghèo chiếm tỷ lệ cao trong cộng đồng (80,2%).
Về khu vực kinh tế: Ta thấy tỷ lệ YLD cao ở nhóm dân cư sống ở khu vực 2, vùng ven (44,3%). Điều này là do cơ cấu dân số của Đắk Lắk, tỷ lệ dân số sống ở vùng ven chiếm 43,8% trong cộng đồng.
Ths Châu Dương có kết luận 10 nguyên nhân hàng đầu của YLD tại Đắk Lắk bao gồm viêm loét dạ dày, thoái hóa cột sống, suy nhược cơ thể, viêm đa khớp, viêm đại tràng, đau thắt lưng, tăng huyết áp, đau thần kinh tọa, rối loạn tiền đình và viêm họng cấp. Mười nguyên nhân hàng đầu của YLD ở nam giới gồm viêm dạ dày, thoái hóa cột sống, viêm đại tràng, đau thắt lưng, suy nhược cơ thể, tăng huyết áp, tâm thần phân liệt viêm đa khớp, đau thần kinh tọa, viêm họng. Ở nữ giới, đó là viêm dạ dày, thoái hóa cột sống, viêm đa khớp, suy nhược cơ thể, viêm đại tràng, đau thắt lưng, rối loạn tiền đình, đau thần kinh tọa, tăng huyết áp và rối loạn tuần hoàn não.
Hữu Lai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 222

Số lượt truy cập: 9360981

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang