
Ung thư phổi là thuật ngữ chỉ bệnh lý ác tính của phế quản phổi. Ung thư phổi có 2 nhóm chính: ung thư phổi không phải tế bào nhỏ và ung thư phổi tế bào nhỏ. Mỗi nhóm có phương pháp điều trị, tiên lượng bệnh khác nhau. Ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm 20-25% tổng số ung thư phổi, đây là thể ung thư phổi tiến triển nhanh và người bệnh tử vong sau thời gian ngắn.
Nghiên cứu của tác giả Phan Thu Phương cùng cộng sự về “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ” thực hiện từ tháng 01/2010 đến tháng 6/2012. Có 70 bệnh nhân được thực hiện nghiên cứu, tuổi trung bình 64,2, tuổi mắc bệnh thấp nhất là 40, cao nhất là 85 tuổi. Độ tuổi 51-80 chiếm tỷ lệ đến 85,7%, nam giới chiếm tỷ lệ 88,6%; xấp xỉ 8 nam/1 nữ. Kết quả nghiên cứu cho thấy triệu chứng hay gặp là đau ngực (70%), ho kéo dài (68,6%), khó thở (44,3%0, gầy sút cân (35,7%). Trên lâm sàng kết quả nghiên cứu cho thấy hội chứng ba giảm gặp gần 23%, trên X quang phổi trung thất mờ dạng u chiếm tỷ lệ gần 30%. Trên kết quả chụp phim cắt lớp, 20 bệnh nhân có tổn thương xâm lấn, trong đó xâm lấn phế quản gốc chiếm gần 20%, xâm lấn tim và mạch máu lớn gần 15%. Đối với xét nghiệm soi phế quản dạng tổn thương thâm nhiễm sùi chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 54,3%, còn dạng tổn thương phù nề, chít hẹp gặp 24,3%. Trong 70 bệnh nhân nghiên cứu có kết quả mô bệnh học chẩn đoán xác định là ung thư phổi tế bào nhỏ. Phương pháp lấy bệnh phẩm được thực hiện qua nội soi phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực, chọc hạch xương đòn và dịch màng phổi. Theo tác giả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng kết hợp chẩn đoán hình ảnh gồm chụp X quang phổi, chụp cắt lớp vi tính ngực, nội soi phế quản và mô bệnh học và bộ ba chẩn đoán quan trọng.
Theo GSTs Nguyễn Chấn Hùng – Chủ tịch Hội ung thư Việt Nam, ung thư phổi tế bào nhỏ là loại ung thư lan tràn nhanh, thường bắt đầu mọc từ các cuống phổi ở vùng trung tâm phổi. Các tế bào thì nhỏ nhưng lại lớn rất nhanh thành khối bướu to. Các bướu này lan tràn nhanh đến não, gan, xương. Điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ thường không phân biệt được vì bệnh lan tràn xa, điều trị bằng các loại thuốc hóa trị, nếu bệnh đã lan tràn phối hợp hóa trị và xạ trị. Nếu bệnh ở giai đoạn còn khu trú tỷ lệ sống còn 2 năm khoảng 40%, nếu ở giai đoạn lan rộng tỷ lệ giảm xuống còn dưới 5%.
Một nghiên cứu của Lê Tuấn Anh cùng cộng sự - Bệnh viện Chợ Rẫy Tp Hồ Chí Minh về đặc điểm lâm sàng và điều trị của 1158 bệnh nhân ung thư phổi, kết quả cho thấy ung thư phổi tế bào nhỏ có 57 trường hợp chiếm tỷ lệ 4,9%; ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm tỷ lệ nhiều hơn 95,1%, trung bình mỗi năm bệnh viện điều trị bệnh nhân ung thư phổi là gần 390 người, đây là số lượng cao so với các bệnh viện khác tại Việt Nam. Phần lớn bệnh nhân tập trung ở giai đoạn III và giai đoạn IV với tỷ lệ tương ứng là 38,8% và 50,3%. Ung thư di căn đến não thường gặp nhất với tỷ lệ 40%, gan 21,8%, phổi, màng phổi chiếm 19,8%. Tác giả đã kết luận ung thư phổi thường gặp trên lâm sàng nhưng đa số bệnh nhân nhập viện ở giai đoạn muộn. Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị triệt để đạt tỷ lệ 29,6%; trong đó ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm tỷ lệ 17/57 trường hợp. Quy trình thực hiện điều trị là bệnh nhân sau khi được thông qua hội đồng hội chẩn, chẩn đoán xác định, bệnh nhân được chỉ định điều trị và lập kế hoạch điều trị cụ thể. Phẫu thuật đơn thuần được thực hiện cho bệnh nhân ở giai đoạn I không có yếu tố nguy cơ, điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật giai đoạn I có yếu tố nguy cơ là hóa trị hoặc có kèm xạ trị. Hóa trị, xạ trị đồng thời được thực hiện cho những bệnh nhân giai đoạn III không thể phẫu thuật hay sau phẫu thuật có nguy cơ cao. Hóa trị đơn thuần được thực hiện cho bệnh nhân ở giai đoạn IV.
Ung thư tế bào nhỏ liên quan chặt chẽ đến hút thuốc lá. Tại Việt Nam mỗi năm có hơn 40.000 người tử vong do các bệnh liên quan đến thuốc lá, gấp ba lần số người chết do tai nạn giao thông. Một nghiên cứu của Nguyễn Hải Anh cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội trên 120 bệnh nhân điều trị tại khoa hô hấp của Bệnh viện cho thấy có đến ¼ số người có hút thuốc lá cho rằng thuốc lá không phải là nguyên nhân gây ra bệnh của mình. Có một tỷ lệ 3,3% cho rằng thuốc lá không gây hại, 8,3% cho rằng thuốc lá không gây nghiện, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy phần lớn bệnh nhân đều chọn bệnh liên quan đến hô hấp do hút thuốc lá gây ra như ung thư phổi (90%), bệnh hô hấp trẻ em (87,5%), lao phổi (85%), tim mạch (73,3%). Tỷ lệ bệnh nhân được truyền thông về các biện pháp cai thuốc lá chỉ đạt 44,2%. Vẫn có 25% bệnh nhân có ý định hút thuốc lá trở lại. Nghięn cứu đă đề xuất cần đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thông, nhấn mạnh đến tư vấn, hướng dẫn có biện pháp cai thuốc nhằm mục đích cai thuốc thŕnh công. Kiến thức truyền thông các bệnh do tác hại của thuốc lá ngoài các bệnh ung thư nên truyền thông thêm bệnh viêm phổi tắc nghẽn mãn tính.
Quốc Nguyên